THƯ NGỎ TÔNG ĐỒ XÃ HỘI CUỐI NĂM HỌC 2021-2022 12.5.22 Bản tin Thiên Ân , Hoạt động , Ơn gọi , Thông báo Kính gửi: Quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, và quý Ân nhân!Lời đầu tiên, Gia đình SVCG Thiên Ân chúng con xin cảm ơn Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu sĩ nam nữ và Quý ân nhân đã đến và đồng hành với nhóm trong suốt thời gian qua.Kính thưa quý vị, khởi đi từ ước mong mang hơi ấm tình thương và sẻ chia niềm vui đến với những con người đang gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất. Vào ngày 21- 22/5/2022 sắp tới đây, gia đình Thiên Ân chúng con có một chuyến tông đồ xã hội đến làng dân tộc thiểu số K’Ho, thuộc đèo Tà Pứa, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Có lẽ cuộc sống của mỗi người chúng ta đang dần trở nên ổn định trong giai đoạn "bình thường hóa" hậu COVID-19, nhưng cuộc sống "bình thường" của những người dân tộc làng K'Ho còn nhiều thiếu thốn và bấp bênh. Gia đình Thiên Ân chúng con ước mong được mang niềm vui đến các em nhỏ, cũng như được chia sẻ và giúp đỡ những người dân tộc thiểu số nơi đây một phần nào đó về vật chất cũng như tinh thần. Để thực hiện được mong ước đó, chúng con hi vọng sẽ nhận được sự cộng tác và hỗ trợ về vật chất và tinh thần đến từ phía quý vị, để cho chuyến đi này có thể lan tỏa tình yêu Chúa, yêu người đến cho những con người kém may mắn. Nguyện xin Thiên Chúa qua lời chuyển cầu của thánh quan thầy Gioan Lasan trả công bội hậu và ban muôn ơn lành xuống trên quý vị. BAN ĐẠI DIỆN KHÓA 18 Kính gửi: Quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, và quý Ân nhân ! Lời đầu tiên , Gia đình SVCG Thiên Ân chúng con xin cảm ơn Quý Đức Cha, Quý Cha, Qu... Xem thêm »
Yêu đủ sâu hay yêu lâu 16.12.18 Ơn gọi , Quà tặng trái tim Tôi nhận được nhiều câu hỏi đại để như thế này: Chúng con đã yêu nhau được 2 năm, 3 năm,…thậm chí hơn thế nữa. Vậy mà cuối cùng cũng chia tay? Có tình yêu thật không thầy? Hay làm sao để giữ được một tình yêu vẫn mãi như “thuở ban đầu” ? Đơn giản thôi! chẳng cần tình yêu ấy phải dài lâu, chỉ cần nó đủ sâu là được! Yêu dài lâu mà con tim mỗi ngày thêm hờ hững, chẳng còn rung động, chẳng còn nhớ nhung, thì kể năm, kể tháng liệu có ích gì? Yêu dài lâu mà mỗi ngày qua đi, bạn lại nhận ra mình cô đơn thêm một tẹo trong cuộc tình hai người, thì chắc hẳn, năm tháng dài có giá trị chi đâu. Yêu dài lâu mà chỉ bên nhau như một thói quen khó bỏ thì mất nhau có lẽ cũng chỉ là một nỗi buồn nhàn nhạt, nhẹ tênh. Yêu dài lâu rồi một ngày nào đó, bạn quên nhau ngay sau lời chia tay, há chẳng phải tình yêu đó chỉ làm tốn tháng năm tuổi trẻ? Chẳng cần tình đôi ta phải thật dài, chỉ cần sâu là được! Yêu đủ sâu cho ta đi qua đủ những cung bậc của cảm xúc, những rung động ngọt ngào, những kỉ niệm và… cả những nỗi đau. Yêu đủ sâu để suốt một đời này, dù tình yêu đó cập bến bờ hạnh phúc hay vô tình rẽ sóng sang ngang, mỗi lần nhắc đến tên người đó, trái tim tự khắc thắt lại, nhói đau… Chúng ta cất nhau vào một vùng kỉ niệm thiêng liêng chẳng ai có thể nào chạm đến. Yêu đủ sâu là để đến khi răng long đầu bạc, nghĩ về những gì đã qua, tuyệt đối chẳng một lần chúng ta hối hận về tình yêu đó. Yêu lâu nếu không đủ sâu đậm có thể chỉ làm bạn đánh rơi những cơ hội. Nhưng nếu yêu đủ sâu bạn sẽ biết cách làm cho tình yêu đó mãi dài lâu. Mà ngay cả khi giữa những giông bão cuộc đời, cuộc tình đó có không may trôi dạt, thì một tình yêu đủ sâu sẽ làm bạn nhớ về nó suốt đời. Xét cho cùng, tình yêu đi tới đích hay không chưa hẳn quan trọng, có danh phận nào trong cuộc đời nhau hay không, không hẳn ý nghĩa, nói đến cùng, có thể từng yêu một người đúng nghĩa đã là may mắn của ta rồi. Nguồn: facebook Tôi nhận được nhiều câu hỏi đại để như thế này: Chúng con đã yêu nhau được 2 năm, 3 năm,…thậm chí hơn thế nữa. Vậy mà cuối cùng cũng chia ... Xem thêm »
9.12.18 Ơn gọi , Quà tặng trái tim , Suy niệm-cầu nguyện , Thiêng liêng Linh mục là như thế đó... Thư một linh mục Công giáo gửi báo The New York Times Lời người dịch: “Đây là một bài đọc hữu ích để tái lập sự quân bình phần nào so với một sự tấn công dàn dựng của nhiều phương tiện truyền thông. Liệu việc tìm kiếm sự thật không đòi hỏi rằng các thực tại tiêu cực không ngăn cản chúng ta nhìn thấy các thực tại tích cực, khi các thực tại này có thể khuyến khích chúng ta, truyền cảm hứng cho chúng ta làm sự thiện chăng? Nó cũng sẽ là một thuốc chữa cho sự rầu rĩ lan tràn” (www.riposte-catholique.fr). Nhật báo The New York Times là một tờ báo lâu đời ở Mỹ, nổi tiếng là chống đạo Công giáo một cách có hệ thống. Báo này khai thác, quá nhiều và không công bằng, một vài vụ linh mục ấu dâm ở Mỹ và nơi khác, trong khi không hề đưa tin về tuyệt đại đa số linh mục có tâm huyết với Giáo Hội, hy sinh cuộc đời vì Chúa và vì tha nhân. Do đó linh mục Martín Lasarte, người Uruguay, Dòng Don Bosco (SDB), một nhà truyền giáo ở Angola từ 20 năm qua, đã viết bài dưới đây gửi nhật báo The New York Times ngày 6-4-2010. Dễ hiểu là nhật báo không hề trả lời lá thư của cha. Vài ngày sau, lá thư được đăng trên trang mạng Enfoques Positivos ở Argentina, và phát tán nhanh trên các trang mạng bằng tiếng Tây Ban Nha. Sau đó, bản dịch tiếng Anh được phổ biến ở nhiều nước nói tiếng Anh. Mới đây, bản dịch tiếng Pháp được trang www.riposte-catholique.fr đăng ngày 22-3-2013. Xin được giới thiệu bài viết đầy tính thời sự này. Anh bạn phóng viên thân mến. Tôi chỉ là một linh mục Công giáo bình thường. Tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào về ơn gọi của mình. Trong 20 năm qua, tôi đã sống ở Angola với tư cách là một nhà truyền giáo. Tôi đọc trong nhiều phương tiện truyền thông, đặc biệt là tờ báo của bạn, sự phóng đại của chủ đề linh mục ấu dâm, nhưng trong một cách bệnh hoạn, vì chỉ tìm kiếm chi tiết trong đời sống các linh mục, các sai lầm trong quá khứ. Có một trường hợp linh mục ấu dâm, trong một thành phố của Mỹ, trong những năm 1970, một trường hợp ở Úc trong thập niên 1980, và cứ như thế, có trường hợp mới đây hơn.... Chắc chắn rằng tất cả các trường hợp này đáng bị khiển trách! Có các bài báo được cân nhắc và cân bằng, có các bài khác lại phóng đại, đầy thành kiến và thậm chí hận thù nữa. Tôi tự cảm thấy đau đớn nhiều về sự dữ lớn lao rằng các người đáng lẽ là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, lại là con dao găm trong cuộc sống của các người vô tội. Không có từ ngữ nào để biện minh cho các hành vi như vậy. Không có nghi ngờ rằng Giáo Hội phải là đứng về phia kẻ yếu, và người nghèo. Vì lý do này, tất cả các biện pháp mà người ta có thể dùng để ngăn ngừa và bảo vệ nhân phẩm của trẻ em sẽ luôn luôn là một ưu tiên. Nhưng sẽ là kỳ cục hết sức khi có ít tin tức và sự thiếu quan tâm đến hàng ngàn các linh mục khác, đã hiến đời mình và phục vụ hàng triệu trẻ em, thanh thiếu niên và các người bất hạnh nhất ở bốn phương trời của thế giới. Tôi nghĩ rằng đối với tờ báo của bạn, các điều sau đây không hề được quan tâm đề nói tới: 1) Tôi phải di chuyển qua các con đường đầy mìn do chiến tranh trong năm 2002, để giúp đỡ các em nhỏ đang chết đói từ Cangumbe đến Lwena (Angola), bởi vì cả chính quyền không thể làm được và cả các tổ chức phi chính phủ không được phép làm; 2) Tôi đã chôn cất hàng chục trẻ em chết do việc dời chỗ vì chiến tranh; 3) Chúng tôi đã cứu sống hàng ngàn người dân ở Mexico, nhờ một trung tâm y tế duy nhất hiện hữu trong một vùng có diện tích 90.000 km2, với việc phân phát thực phẩm và các loại giống cây trồng; 4) Chúng tôi đã có thể cung cấp giáo dục và trường học trong mười năm qua cho hơn 110.000 trẻ em; 5) Cùng với các linh mục khác, chúng tôi đã cứu trợ cho gần 15.000 người ở các trại du kích quân, sau khi họ đã đầu hàng và giao nạp vũ khí, bởi vì thực phẩm của chính phủ và của Liên Hiệp Quốc không thể đến được với họ; 6) Không phải là tin tức thú vị khi một linh mục 75 tuổi, Cha Roberto, rảo qua thành phố Luanda ban đêm, chăm sóc các trẻ em đường phố, dẫn họ đến một nơi trú ngụ, để cho họ không bị ngộ độc bởi xăng dầu mà họ hít để kiếm sống, như là người ném lửa; 7) Việc xoá nạn mù chữ cho hàng trăm tù nhân cũng không phải là tin hay; 8) Các linh mục, như cha Stéphane, tổ chức các nhà tạm trú cho các thanh thiếu niên bị ngược đãi, đánh đập, hãm hiếp, để họ tạm lánh; 9) Linh mục Maiato, 80 tuổi, đến thăm từng ngôi nhà một của người nghèo, an ủi người bệnh và người tuyệt vọng; 10) Không phải là tin hấp dẫn khi hơn 60.000 trong số 400.000 linh mục và tu sĩ hiện nay đã rời đất nước và gia đình của họ để phục vụ anh em mình tại các quốc gia khác trong các trại phong, bệnh viện, trại tị nạn, cô nhi viện cho trẻ em bị cáo buộc là phù thủy, hoặc cho trẻ em mồ côi do cha mẹ chết vì AIDS, trong các trường học dành cho người nghèo nhất, trung tâm dạy nghề, trung tâm tiếp nhận người nhiễm HIV...... 11) Nhất là các linh mục dành đời mình trong các giáo xứ và cứ điểm truyền giáo, động viên mọi người sống tốt hơn và nhất là thương mến người khác; 12) Không phải là tin hấp dẫn khi bạn tôi, Cha Marcos Aurelio, để giải cứu trẻ em trong cuộc chiến ở Angola, đã đưa các em từ Kalulo đến Dondo và khi trên đường trở về, cha bị bắn chết; và một tu sĩ tên là Phanxicô và năm nữ giáo lý viên, bị chết trong một tai nạn, khi họ đi giúp đỡ các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh nhất của đất nước; 13) Hàng chục các nhà truyền giáo tại Angola đã chết vì thiếu các phương tiện y tế, chỉ vì bệnh sốt rét đơn giản; 14) Nhiều người khác đã bị tung xác lên trời do mìn nổ, khi đi thăm các tín hữu; quả vậy, trong nghĩa trang ở Kalulo, có mộ các linh mục đầu tiên đến khu vực ấy... không ai sống hơn 40 tuổi cả....; 15) Không phải là tin hấp dẫn, khi một linh mục "bình thường" sống công việc hàng ngày của mình, trong các khó khăn và niềm vui của mình, sống âm thầm cả đời vì lợi ích của cộng đoàn mình phục vụ; Sự thật, là linh mục chúng tôi không cố gắng để có tên trong tin tức, nhưng chỉ mang "Tin Mừng", và Tin Mừng này, không ồn ào, đã bắt đầu vào buổi sáng Phục Sinh. Một cây ngã gây tiếng ồn nhiều hơn cả cánh rứng đang mọc và phát triển. Người ta gây nhiều tiếng ồn cho một linh mục phạm một lỗi lầm, hơn là gây tiếng ồn cho hàng ngàn linh mục hiến đời mình cho hàng chục ngàn trẻ em và người nghèo khó. Tôi không muốn làm một biện hộ cho Giáo Hội và các linh mục. Một linh mục không phải là một anh hùng, cũng không phải là một người rối loạn thần kinh. Linh mục chỉ là một con người bình thường, và với bản tính con người của mình, tìm cách theo Chúa và phục vụ Ngài trong anh chị em của mình. Linh mục có nhiều khổ đau, nghèo đói và sự mỏng giòn như các người khác; nhưng linh mục cũng có vẻ đẹp và hùng vĩ như mọi thụ tạo khác.... Việc nhấn mạnh một cách ám ảnh bẩm sinh và phá hoại về một đề tài đau đớn, trong khi mất tầm nhìn chung của công việc, tạo ra thật sự các biếm họa tấn công vào hàng linh mục Công Giáo, do đó tôi cảm thấy bị xúc phạm. Tôi chỉ yêu cầu anh, người bạn phóng viên thân mến, hãy tìm kiếm Chân, Thiện, Mỹ. Điều này sẽ làm lớn mạnh nghề nghiệp của bạn. Chào anh trong Đức Kitô, Linh mục Martin Lasarte, SDB "Quá khứ của con, Lạy Chúa, con phó thác cho lòng Thương xót của Chúa; hiện tại của con, cho Tình yêu Chúa; và tương lai của con, cho sự Quan Phòng của Chúa”. Linh mục là như thế đó... Thư một linh mục Công giáo gửi báo The New York Times Lời người dịch: “Đây là một bài đọc hữu ích để tái lập ... Xem thêm »
Nguyện theo chân chúa đi về nơi miền xa mù khơi 5.5.18 Ơn gọi 🙏 Mỗi hội dòng đều mang một đặc trưng hay ân sủng riêng biệt giúp quy tụ nhiều người khác nhau cùng chia sẻ một phương thức cầu nguyện, lao động và cách sống. Các hội dòng đều phong phú và đa dạng như chính bản thân mỗi người, điều đó có nghĩa là sẽ luôn có chỗ cho mọi người khi họ được ơn gọi vào đời sống tu trì hay chỉ đơn giản là tìm kiếm nguồn cảm hứng. 🙏 Tuy nhiên, bất kể hội dòng nào, cũng đều có chung một mục đích duy nhất, đó là tìm kiếm Chúa Kitô và tận hiến đời sống mình cho Ngài. 🙏 Dưới đây, chúng tôi xin chia sẻ cho các bạn 10 inforgraphics, sẽ giúp các bạn xác định và hiểu rõ hơn về 10 Hội dòng và Giáo đoàn lớn của Hội Thánh Công Giáo. Với sự trau chuốt trong cách dùng từ khi chuyển ngữ, cũng như sự chỉn chu trong việc giữ nguyên bản thiết kế ảnh qua font chữ, màu sắc, bố cục,...các infographics nay được Ban Truyền Thông Đoàn Têrêsa Hài Đồng Giêsu Tân Việt mang đến cho bạn đọc một tinh thần phục vụ hăng say trong công tác truyền thông và chia sẻ thông tin mạng Nguồn: Bạn đường linh thao 🔴 Bài viết và ảnh gốc: https://catholic-link.org/9-infographics-religious-orders/ https://www.facebook.com/banduonglinhthao/photos/pcb.1469497656493333/1469497169826715/?type=3&theater 🙏 Mỗi hội dòng đều mang một đặc trưng hay ân sủng riêng biệt giúp quy tụ nhiều người khác nhau cùng chia sẻ một ... Xem thêm »
Thư Chiêu Sinh Của Quý Dòng Thánh Phanxico 12.12.16 Bản tin Thiên Ân , Hoạt động , Ơn gọi THÔNG BÁO TUYỂN SINH TỈNH DÒNG THÁNH PHANXICÔ VIỆT NAM Tỉnh Dòng Thánh Phanxicô Việt Nam trân trọng thông báo đến quý cha, quý phụ huynh và các bạn trẻ về việc tuyển sinh đợt 1 năm 2017. Để đón nhận những ứng sinh mới, có nguyện vọng sống ơn gọi người Anh Em Hèn Mọn, Ban Mục Vụ Ơn Gọi Tỉnh Dòng sẽ tổ chức kỳ tĩnh tâm khám phá và tuyển lựa ơn gọi Ơn gọi từ ngày 20 đến 24 tháng 2 năm 2017. Kính mong quý cha, quý phụ huynh khích lệ, tạo điều kiện cho các bạn trẻ lắng nghe tiếng Chúa và quảng đại đáp trả. 1. ĐIỀU KIỆN DỰ TUYỂN : • Có ước muốn tìm hiểu đời sống tu trì • Tuổi không quá 25. 2. THỜI HẠN VÀ THỂ LỆ GHI DANH • Thời hạn : từ nay cho đến ngày 10 tháng 02 năm 2017 • Thể lệ ghi danh : Hồ sơ gồm (1) Đơn xin tham dự tuần khám phá ơn gọi theo mẫu (có dán ảnh và cha xứ xác nhận) (2) Bản sao Bằng Tốt Nghiệp Phổ Thông Trung Học và Bằng Tốt Nghiệp đại học / cao đẳng (nếu có) (3) Bản sao học bạ cấp ba và bảng điểm những năm đại học / cao đẳng (nếu có) • Địa điểm : Tu viện Phanxicô, 42 đường Đình Phong Phú, phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9, Tp HCM Hồ sơ có thể nộp trực tiếp cho Ban Mục Vụ Ơn Gọi hoặc gởi qua đường bưu điện theo địa chỉ : Lm Nguyễn Hải Minh, Tu viện Phanxicô, 42 đường Đình Phong Phú, phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9, Tp HCM Email: mucvuongoiofm@gmail.com - Điện thoại di động : 097 827 5200 3. CHƯƠNG TRÌNH TĨNH TÂM KHÁM PHÁ ƠN GỌI • Thời gian : 8:00g thứ hai ngày 20 tháng 02 đến 17:00g thứ sáu ngày 24 tháng 02 năm 2017 • Địa điểm : Tu viện Phanxicô, 42 đường Đình Phong Phú, phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9, Tp HCM • Chương trình : Các em chia sẻ bản thân, gia đình, ước mơ trong nhóm ; Các em có 3 ngày tĩnh tâm, được đồng hành để giúp khám phá ơn gọi và kiểm tra những yếu tố cần thiết cho hướng ơn gọi dâng hiến (trí tuệ, sức khoẻ, khả năng sống đời sống chung) Ban Mục Vụ Ơn Gọi Tỉnh Dòng Anh Em Hèn Mọn Việt Nam ***************************************************** THÔNG BÁO TUYỂN SINH TỈNH DÒNG THÁNH PHANXICÔ VIỆT NAM Tỉnh Dòng Thánh Phanxicô Việt Nam trân trọng thông báo đến quý cha, quý phụ huy... Xem thêm »
Dấu Chỉ Ơn Gọi 16.10.16 Ơn gọi Làm sao biết được con đường Chúa muốn cho chúng ta đi, địa vị chúng ta sống? Làm sao biết mình có ơn Kêu Gọi? Ðó là điều băn khoăn của các bạn. Trước hết, nhiều khi Chúa kêu gọi một cách trực tiếp, rõ ràng bằng những DẤU bề ngoài. "Hỡi Abraham, hãy bỏ quê hương bà con thân thuộc, bỏ nhà Cha ngươi để đến xứ mà Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ của một dân tộc" (Sáng Thế 12,1). Ðó là ơn gọi của tổ phụ Do Thái, ông Abraham. Chúa đến bên cạnh Mathêu đang ngồi bên két bạc. "Hãy theo Ta" (Mt. 9,9). Ðó là ơn gọi của thánh Mathêu Tông Ðồ. Nhiều khi có ơn gọi rõ ràng nhưng bị chống đối hoặc chấp nhận một cách miễn cưỡng trong lo sợ. Maisen nói cùng Ðức Giavê: "Tôi là ai mà dám đi gặp vua Pharaon... Xin lỗi Ngài tôi không có tài ăn nói. Miệng tôi thô sơ, lưỡi tôi nặng nề" (XH. 4,10). Lời của Giavê phán cùng Gionas: "Hãy đứng lên đi về thành Ninivê và loan báo cho họ biết tội ác của họ đã kêu lên đến Ta. Gionas lên đường nhưng lại chạy trốn sang Tarsis, xa Ðức Giavê" (Jon.1,1-2). Trong lịch sử Giáo Hội, thánh Ephrem được gọi chịu chức Linh mục hoảng sợ quá đã giả vờ người điên. Thánh Athanasio và Cyprianô được gọi chịu chức thánh. hoảng quá đã chạy trốn. Nhiều khi tiếng Chúa vọng lên một nơi và bằng phương tiện bất ngờ nhất. Cha Jer. Planus kể chuyện một nhà quý phái thích làm le với các cô các bà. Bị con ngựa trở chứng hất té nhào vào đống phân. Bị các bà các cô cười cho một trận... Xấu hổ chán đời... đi tu! Cha Giuse Lupo, Giám đốc ơn gọi của Dòng Thiên Chúa Ba Ngôi tại Hoa Kỳ, năm 1971 có sáng kiến đăng một quảng cáo nhỏ về ơn kêu gọi trong tạp chí mà nhiều thanh niên hay đọc, tạp chí Playboy. Kết quả bất ngờ: nhờ quảng cáo ấy mà 27 chàng thanh niên đã đến tìm hiểu Tập Viện và Ðại Chủng Viện của Dòng tải Garrison, tiểu bang Maryland. Phần đông các trường hợp Chúa không hiện hình ra hay bày tỏ rõ ràng, Ngài thường dùng những cái mà các nhà Thần học quen gọi là DẤU ƠN GỌI để tỏ cho chúng ta biết thánh ý của Ngài muốn cho chúng ta đi về đâu. A. DẤU HƯỚNG VỀ CUỘC SỐNG ÐÔI BẠN Phần đông các bạn thanh niên thiếu nữ sẽ hướng về cuộc sống đôi bạn. Hỏi rằng có những DẤU nào rõ ràng khả dĩ có thể kết luận về việc ấy không? Khó quả quyết, nhưng có những Dấu sau đây có thể dùng để định hướng: 1. Thích cuộc sống đôi bạn. Không bao giờ nghĩ đến việc đi tu hay ở độc thân để phục vụ. 2. Hướng chiều về những thú vui nhục dục trong tư tưởng, lời nói, việc làm. 3. Hay lỗi phạm về đức trong sạch. 4. Không có một ý chí mạnh mẽ. 5. Thích một đời sống dễ dãi, không thích chịu khó. 6. Ðời sống đạo đức tầm thường, nhiều khi giữ đạo vì thói quen, vì liên hệ gia đình hơn là vì xác tín. Ðó là ít dấu chỉ. Nói như vậy không phải là tất cả những ai đi kết bạn đều có những nhược điểm ấy. Nhưng đó là ít điểm hướng dẫn khi phải đặt vấn đề trong việc tìm hiểu ơn gọi. B. DẤU HƯỚNG VỀ CUỘC SỐNG ÐỘC THÂN Có những dấu chỉ tóm lược như sau: 1. Không có đủ điều kiện để đi tu mà cũng thiếu điều kiện để lập gia đình, vì thể xác, bệnh tật, tính tình hoặc chính mình không thích tu mà cũng không thích lập gia đình. 2. Muốn hiến dâng cuộc đời để phục vụ một lý tưởng, đeo đuổi một chí hướng. Muốn sống đời độc thân ấy phải có 3 điều kiện sau đây: - Tinh thần cương quyết - Một đời sống đạo đức vững chắc - Một nghề nghiệp bảo đảm cuộc sống tự lập, không phải dựa vào người khác. Có một chổ ở tương đối bảo đảm an ninh nếu mình là phụ nữ. C. DẤU ƠN GỌI TU TRÌ Cho đến nay các nhà Thần Học cũng không hiểu nổi bản chất của ơn gọi và Giáo Hội cũng không tuyên bố gì về bản chất ấy. Tuy nhiên trong thực tế, Giáo Hội đã theo đường hướng sau đây: Ðầu thế kỷ 20 này đã có một cuộc tranh luận quan trọng về Ơn Gọi làm Linh mục. Ðức Giáo Hoàng Piô thứ X đã thiết lập một Ủy Ban gồm các Hồng Y để học hỏi về vấn đề ấy. Ủy Ban đã đúc kết thành một quyết nghị đệ lên Ðức Thánh Cha ngày 20.6.1912 và được phi chuan ngày 26.6.1912. Quyết nghị ấy đã trở nên khuôn vàng thước ngọc để định đoạt về Ơn Gọi vào bậc tu trì. Sau này, quyết nghị ấy cũng được áp dụng trong Giáo Luật 1917 ở điều khoản 538 và trong bộ Giáo Luật mới 1983 ở điều khoản 642. Dựa trên quyết nghị ấy, về phần tiêu cực, người muốn đi tu phải là người không vướng mắc những ngăn trở khiến cho việc gia nhập Dòng Tu trở nên bất thành hoặc bất hợp pháp. Ví dụ: Vào Tập Viện khi chưa đủ 17 tuổi hoặc còn vợ, chồng hoặc từ Dòng tu khác qua mà không có phép chính thức theo Giáo Luật (GL.643) Nhưng quan trọng hơn cả là phần tích cực gồm có những cái mà nhà Tu Ðức và Thần Học gọi là các DẤU MINH CHỨNG ƠN GỌI (signes probateurs de Vocation). Các Dấu nào? 1. Trước hết phải xét đến Thiện Chí hay ý ngay lành của thỉnh sinh. Muốn tận hiến cho Chúa trước tiên phải ước ao, phai muốn đi Tu. Không phải chỉ là một ước muốn mơ hồ, mà là một ý muốn cương quyết mạnh mẽ và lâu bền đầy ý thức. Ðành rằng có thể có những hối tiếc, những cám dỗ như truyện bà thánh Chantal, nhưng đương sự vẫn cố gắng và cương quyết vượt qua. Ði theo Chúa không phải vì vụ lợi vì danh vọng mà vì muốn nên trọn lành. Chúa phán cùng người thanh niên: nếu con muốn nên trọn lành hãy về bán hết tài sản...... Ðó là dấu căn bản thứ nhất. Nhưng thiện chí thôi không đủ. Cần có những khả năng nữa. Khả Năng là gì? Là những đức tính tự nhiên và siêu nhiên khiến cho người thỉnh sinh có hy vọng vuông tròn với cuộc sống mình chọn. Ði tu là tu cả con người. Và ơn thánh không cản trở hay thay thế bản chất tự nhiên mà chỉ siêu hóa và thánh hóa. Vì vậy phải chú trọng đến các đặc tính tự nhiên và siêu nhiên. Bà thánh Jeanne de Chantal nói với chị em trong Dòng rằng: Hãy chú trọng đến phương diện tự nhiên của các thiếu nữ được nhận vào Dòng. Vì bản chất tự nhiên không chết và với thời gian có thể vùng lên. Ít kẻ nhận ơn để kềm chế bản năng xấu tự nhiên. Ít khi một thiếu nữ có bản tính tốt và có trí khôn mà lại hư mất. 2. Có 5 Khả Năng thường được cân nhắc khi thẩm xét một ơn kêu gọi vào Dòng. 1- GIA ÐÌNH (Souche) Thật ra ngày nay Giáo Hội bãi bỏ ngăn trở về gia đình trong việc tu trì như đối với con ngoại hôn. Nhưng thường phải thẩm xét về thế giá của gia đình. Thế giá đây không phải là vấn đề giàu nghèo, sang hèn, mà chú tâm đến sự liêm chính, đức tính làm ăn cần cù, nhất là lòng đạo đức của người làm cha mẹ. Cây lành thường sinh trái tốt. Kinh nghiệm cho thấy những ơn gọi thường phát xuất từ vùng quê, trong những gia đình đạo đức làm ăn cần cù tiết kiệm. 2- SỨC KHỎE VÀ TÍNH TÌNH (Santé) Không cần phải là nhà lực sĩ mới đi tu được. Nhưng người Thỉnh Sinh phải có một sức khỏe vừa phải, khả dĩ vuông tròn bổn phận mai sau. Sức khỏe ảnh hưởng đến tính tình, học vấn và nhân đức. Thể xác yếu nhược thường làm cho ý chí cũng bị ảnh hưởng. Về tính tình, muốn đi tu phải tập cho có một tính khí QUÂN BÌNH. Không cực đoan. Không nhu nhược mà cũng không ngang ngược. Quá yểu điệu có thể bị gẫy dưới gánh nặng, mà quá ương ngạnh cũng có thể bể gẫy và đạp đổ, làm một nhà cách mạng dễ hơn là một nhà tu. Phải đề phòng tính đa sầu đa cảm, sống với gió và với trăng. Phải tập bỏ tính hoài nghi và thiếu cởi mở. Ði tu là sống và làm việc chung, không được cô đơn như một hòn đảo. Họ sẽ đau khổ và làm cho người khác cũng đau khổ trong đời sống chung. 3- HỌC VẤN (Science) Muốn đi tu phải có một nền học vấn căn bản. Bên Hoa Kỳ này thường là hết bậc Trung Học. Cách riêng phải có một trí PHÁN ÐOÁN vững chắc. Chạm "mát" không đi tu được. Trí khôn cởi mở có thể hiểu biết về đời sống tu và đại cương về khoa tu đức. 4- LÒNG ÐẠO ÐỨC (Sainteté) Lòng đạo đức gồm 3 phương diện sau đây cần phải được xét đến: a. ÐỜI SỐNG NỘI TÂM - Thích cầu nguyện, sống kết hợp với Chúa, dựa trên một nhu cầu sống hơn là trên tình cảm. Tuy nhiên đây là một sự cố gắng cả một đời, không thể đòi hỏi có ngay từ đầu được. b. ÐỨC TRONG SẠCH - Người tu sĩ sẽ khấn đức khiết trinh, cần có sự cố gắng để chế ngự tình cảm từ ban đầu. Lỗi phạm sơ qua và đã ăn năn thống hối, không đặt thành vấn đề. Nhưng khi đã thành tập quán, sa đi ngã lại nhiều lần, không nên đi vào đời tu trì. c. LÒNG QUẢNG ÐẠI HY SINH - Hay thương giúp kẻ khác là đức tính cần thiết. Người ích kỷ chỉ biết có mình thôi không đi tu được. 5- ÐẶC TÍNH XÃ HỘI (Socialbilité) Người tu sĩ phải biết sống chung. Ðời tu đòi hỏi đặc tính xã hội, hòa mình với kẻ khác. Vì thế phải tập cho có một tính tình dễ dãi, không nên là thánh giá cho kẻ khác nhưng đem niềm vui cho những người chung quanh. ƠN GỌI THÀNH HÌNH VỚI SỰ CHẤP THUẬN CỦA BỀ TRÊN Xưa nay có nhiều tiếng gọi vọng lên mà không có sự đáp ứng. Chúa Giêsu gặp một thanh niên, người nói với anh: "Nếu anh muốn nên trọn lành thì hãy đi bán những gì anh đang có. Bố thí cho người nghèo khó và anh sẽ có một kho tàng trên trời, rồi hãy trở lại theo Ta. Nghe lời ấy, người thanh niên bỏ đi buồn rầu, vì anh có nhiều của cải" (Mt.19,21-22). Nhiều khi tiếng Chúa cũng vọng lên rồi mất tăm trong sa mạc, không có đáp ứng hay bị phản bội. Staline là một cựu chủng sinh. Nhà cách mạng khát máu Robespierre lúc thiếu thời đã được Cha Linh Hướng bảo: "Con có ơn gọi làm Linh mục". Vậy điều cần thiết là tìm hiểu ơn gọi rồi đem hết thiện chí đáp ứng. Nhưng thiện chí cũng như những khả năng nói trên mà mỗi Thỉnh Sinh cố tập cho có, nói được chỉ là chất liệu của ơn gọi. Muốn thành Ơn Gọi thật thì phải có sự chấp thuận của Bề trên. Trong Giáo Hội, Chúa điều khiển các linh hồn qua các Ðấng Bề Trên. Trước một Ơn Gọi, cá nhân mỗi đương sự phải đi tìm hiểu học hỏi. Bề trên cũng cân nhắc suy nghĩ và quyết định. Sự chấp thuận của Bề trên, Giáo Hội làm cho Ơn Gọi thành hình và hoàn hảo. Người Thỉnh Sinh có thể nói: Tôi có Ơn Gọi và khi được Khấn Dòng thì trở nên Tu Sĩ thật của Chúa và Giáo Hội. KẾT LUẬN Mỗi người trong chúng ta cần phải tìm cho được con đường mà Chúa muốn cho mình đi. Hạnh phúc cả cuộc đời tùy thuộc sự việc ấy. Vì thế, chúng ta hãy cầu nguyện, hãy tìm hiểu, hãy xin ơn soi sáng. Cha mẹ thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, ông Martin và bà Guerine đã đi tìm hiểu đời sống tu trì. Nhưng Chúa không muốn cho họ đi con đường ấy và họ đã bước vào cuộc sống gia đình và nên thánh. Phải chăng Chúa cũng muốn cho các bạn đi vào cuộc sống hôn nhân ấy? Hai ông bà có 5 người con Têrêxa là con út, đã vào Dòng Kín. Con đường ấy, biết đâu cũng là con đường của một số trong các bạn? Chúng tôi xin kết luận với lời tâm huyết của Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI: "Chúng tôi kêu gọi cách riêng các bạn trẻ mà chúng tôi rất ưu ái. Các bạn chưa có một quyết định tối hậu nào để các bạn tỏ ra hào hiệp hy sinh. Có rất nhiều tiếng gọi. Có rất nhiều ngã đường đang mở ra trước mắt các bạn, kêu mời bạn tiến lên để phục vụ dân Chúa và Giáo Hội. Phải chăng tiếng gọi này sẽ không có đáp ứng? Phải chăng con đường ấy sẽ không có người đi? Các bạn đầy rộng lượng hy sinh. Hãy hy sinh cho lý tưởng ấy. Vì sao bạn dừng chân và chờ đợi? Trong khi đó thế giới này đang thay đổi mau lẹ. Từng đoàn người mới xuất hiện trên trái đất. Tin Mừng phải được rao giảng cho mọi người. Cho người nghèo khó hôm qua cũng như ngày nay và ngày mai. Luôn luôn có những người đói khát, lao tù, những người bệnh tật trong thể xác và tâm hồn. Họ đang chờ đợi bạn, Trong họ, Chúa Giêsu đang chờ đợi bạn. Có việc cho mọi người! Có chỗ đang đón bạn" Lm. Hồng Phúc, C.Ss.R Làm sao biết được con đường Chúa muốn cho chúng ta đi, địa vị chúng ta sống? Làm sao biết mình có ơn Kêu Gọi? Ðó là điều băn khoăn của cá... Xem thêm »
Dòng Phanxico 16.10.16 1 Ơn gọi DÒNG PHANXICO HAY CÒN GỌI DÒNG ANH EM HÈN MỌN Dòng Anh Em Hèn Mọn, do thánh Phanxicô thành Atxidi sáng lập, là một huynh đệ đoàn, trong đó các anh em được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đi theo Đức Giêsu Kitô sát hơn; qua việc tuyên khấn, họ được thánh hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa, là Đấng họ yêu mến trên hết mọi sự, bằng cách sống Phúc âm trong Giáo hội theo thể thức mà thánh Phanxicô đã tuân giữ và đề xướng. LƯỢC SỬ DÒNG PHAN SINH TẠI VIỆT NAM Đi mở nước Chúa ở những miền đất xa xôi, đầy phiêu lưu mạo hiểm, xưa nay vẫn là một truyền thống của Dòng Phanxicô. Từ thế kỷ 12, đã có vết chân của các nhà truyền giáo mạo hiểm này vượt trùng dương, băng rừng băng núi đem ánh sáng Phúc Am đến cho các dân tộc Á đông. Từ năm 1245-1314, đã có những vị hoặc đi một mình hoặc đi thành phái đoàn, thành công mỹ mãn hoặc có đi mà không có về … Ở Việt Nam, vào thế kỷ 16, đã có những nhà truyền giáo Phanxicô đến mở Nước Chúa. Ngay từ năm 1583 và nhất là sau năm 1680, đã có những linh mục từ Phi Luật Tân qua truyền giáo và rửa tội được rất nhiều người, nhất là ở Nam Việt và Cao Miên. Có người nói số giáo hữu lên tới 30.000 người … Nhưng vào khoảng năm 1750, Giáo hội bị bách hại, vì thế các giáo đoàn nói trên phải tan rã. Các cha còn tìm cách trở lại nhưng không kết quả. Người cuối cùng mà sử sách còn biết tới là cha Odoric de Collodi, làm cha sở Cái Nhum 13 năm, dưới triều Minh Mạng, bị bắt ra Phú Xuân, bị án đày lên Lao Bảo với các Chân phước Gagelin, Jacquard và chết rũ tù nơi rừng thiêng nước độc ấy vào ngày 23/5/1834. Như thế, tuy anh em tu sĩ Dòng Phanxicô đã đến truyền giáo trên giải đất Việt Nam từ cuối thế kỷ 16, nhưng cho đến đầu thế kỷ 20, vẫn chưa thành lập một nhà dòng nào cho người Việt muốn sống đời tu trì theo tinh thần Thánh Phanxicô. Một dịp thuận tiện đã đến để liên kết Dòng với giải đất mà một số con cái thánh Phanxicô đã từng hy sinh gian khổ đem ánh sáng Phúc Âm chiếu giãi sáng ngời. Tháng 11 năm 1928, Đức Cha Colomban Dreyer, một tu sĩ Phanxicô, trước đây một thời đã hoạt động cùng Cha Maurice Bertin ở Canađa, được Tòa Thánh cử làm Khâm mạng Tòa Thánh ở đế đô Huế. Đức Cha nghĩ đến việc lập Dòng, thể theo ý Đức Giáo Hoàng Piô XI đang khuyến khích các địa phận truyền giáo mời các Dòng tu đến giúp sức. Đầu năm 1929, với sự chấp nhận và khuyến khích của Hội Truyền Giáo Paris, và riêng của Đức Cha Eloy, Giám mục Địa phận Vinh, công cuộc lập Dòng Phanxicô Việt Nam, và nhà đầu tiên ở Vinh, được giao cho một Tỉnh Dòng Pháp đảm nhận. Và cha Maurice Bertin vừa ở Nhật Bản về định chuẩn bị lập Dòng ở Tokyo và Nagasaki, được giao cho việc hướng dẫn anh em sang lập Dòng ở Việt Nam. Ngày 21/11/1929, cha Maurice Bertin cùng với hai anh em là cha Hugolin Lemesre và thầy Jean-Marie Couden đặt chân lên hải cảng Đà Nẵng. Và suốt 17 năm trời, mặc dầu đã ngoài 60 tuổi, cha không ngừng vận dụng hết tài năng sức lực lo đặt nền móng vững chắc cho việc đào tạo giúp Hội Thánh Việt Nam, những tu sĩ Phanxicô và phát huy cuộc đời tu hành theo tinh thần của vị Thánh Nghèo trên đất Việt. LINH ĐẠO Ơn gọi và chân tính, nghĩa là đoàn sủng của Dòng Anh em hèn mọn trong Giáo hội và trong thế giới, được diễn tả cách cô đọng trong điều 1 của Tổng Hiến Chương Dòng: “Dòng Anh Em Hèn Mọn, do thánh Phanxicô thành Atxidi sáng lập, là một huynh đệ đoàn, trong đó các anh em được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đi theo Đức Giêsu Kitô sát hơn; qua việc tuyên khấn, họ được thánh hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa, là Đấng họ yêu mến trên hết mọi sự, bằng cách sống Phúc âm trong Giáo hội theo thể thức mà thánh Phanxicô đã tuân giữ và đề xướng. Các anh em, những môn đệ của thánh Phanxicô, phải sống Phúc âm cách triệt để trong tinh thần cầu nguyện và sốt mến và trong tình hiệp thông huynh đệ; phải làm chứng về đời sống hoán cải và hèn mọn; phải mang sứ điệp Phúc âm đến cho toàn thế giới trong tình bác ái đối với tất cả mọi người, và dùng hành động rao giảng sự hòa giải, hòa bình và công lý” 1. Chúng ta là một huynh đệ đoàn: Hội Dòng gồm những người “anh em” (frater) không tự ý chọn lựa nhau, nhưng là quà tặng của Thiên Chúa. Mỗi người được mời gọi đích danh bước theo dấu chân Chúa Kitô và chịu trách nhiệm về cả tập thể mình. 2. Chiều kích Ba Ngôi: Linh đạo của người anh em hèn mọn lấy Chúa Thánh Thần làm khởi điểm, chọn Đức Kitô làm trung tâm và quy hướng về Chúa Cha là cùng đích. 3. Sống Phúc Am cách triệt để: “Luật và đời sống” của người anh em hèn mọn là Phúc âm, là Tin vui nhập thể. Nếp sống đó được biểu lộ cụ thể như sau: - Sống trong tinh thần cầu nguyện và sốt mến; - Sống trong tình hiệp thông huynh đệ; - Làm chứng về đời sống hoán cải và hèn mọn; - Mang sứ điệp Phúc âm đến cho toàn thế giới trong tình bác ái đối với tất cả mọi người; - Dùng hành động rao giảng sự hòa giải, hòa bình và công lý; - Tỏ bày sự tôn trọng đối với mọi loài thọ tạo. 4. Trong Giáo hội: Giáo hội là môi trường trong đó người anh em hèn mọn được mời gọi sống Tin Mừng và trổ sinh những hoa trái thánh thiện, để nhờ đó Thiên Chúa được tôn vinh và nhiều người được ơn cứu rỗi. 5. Theo cách thức của Thánh Phanxicô: Người anh em hèn mọn luôn quy chiếu về thánh Phanxicô và xem ngài như một trung gian và khuôn mẫu để giúp mình thực hiện dự phóng: sống và loan báo Phúc âm cùng với những anh em do Chúa ban cho (x. Di chúc 14-15). (x. Dấu Ấn Mọn Hèn, trang 112-115) MỘT VÀI TÀI LIỆU TÌM HIỂU VỀ DÒNG - Thánh Phanxicô Assisi (Antôn & Một nhóm tác giả. Học viện Phanxicô). - Di cảo Thánh Phanxicô (VPTD ấn hành 2007). - Hạnh Thánh Phanxicô (Tôma Cêlanô. Ban Tu Thư TD 2004). - Lần Giở Trước Đèn (Maria Antôn Trần Phổ. Học viện Thủ Đức 2003) - Dấu Ấn Mọn Hèn (Kỷ niệm 75 năm thành lập TDVN 1929 – 2004). - Những bông hoa nhỏ (M.A. Trần Phổ) ƠN GỌI VÀ HUẤN LUYỆN A. Các nguyên tắc chung 1) Công tác huấn luyện trong Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam đã được tiến hành theo các nguyên tắc căn bản là giáo dục nhân bản, giáo dục kitô hữu và giáo dục phan sinh, nhằm đào tạo một con người tốt, một người kitô hữu tốt và một tu sĩ phan sinh tốt. 2) Trong từng hoàn cảnh cụ thể, chương trình huấn luyện được điều chỉnh để phù hợp với các ưu tiên của Giáo hội, của Dòng, của Giáo hội địa phương và của Tỉnh dòng, cũng như để phù hợp với các biến chuyển trong xã hội. B. Một số đặc điểm 1) Từ 1929 đến 1975: - Ở Tiểu chủng viện, các chủng sinh theo hướng linh mục được học chương trình Pháp, ban Nhân văn. Việc tuyển lựa và sàng lọc chủng sinh nhấn mạnh nhiều đến khả năng học vấn, được hướng dẫn về giáo lý đức tin và đồng hành trau dồi các đức tính nhân bản. - Ở Nhà tập, các tập sinh ngưng việc học các môn “thế tục”, tiếp tục được chỉ dẫn về các đức tính nhân bản, đặc biệt các đức tính cần thiết cho đời sống chung cũng như được hướng dẫn để thực tập lối sống phan sinh: cầu nguyện, huynh đệ, đơn sơ, khó nghèo. - Ở Học viện, các ứng viên cho chức linh mục (các học sĩ) học các môn do Giáo luật qui định: triết học, thần học (tín lý, luân lý, Thánh Kinh…). Đến những năm 60, bắt đầu học triết học ở ngoài (Học Viện Đa Minh, Đại Học Văn Khoa). Bắt đầu từ 1968, học thần học tại Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà Lạt. - Công tác huấn luyện theo định hướng không linh mục được tổ chức theo một hệ riêng: chủ yếu là học tu và học làm việc. 2) Từ 1975 đến 1993: - Trong điều kiện không có cơ sở vật chất chuyên dụng, công việc huấn luyện vẫn được kiên trì tiến hành theo phương châm “giáo dục trong cuộc sống và qua cuộc sống” và được địa phương hóa; nghĩa là ở cộng đoàn nào có anh em đang trong giai đoạn thụ huấn, thì ở đó tự sắp xếp thời gian phối hợp hài hòa: việc cầu nguyện, học tu và học tập, lao động, thư giãn. - Công tác huấn luyện cho các ứng sinh và tu sĩ có định hướng linh mục hay không linh mục tiến hành chung với nhau. 3) Từ 1989 đến nay (2008): - Chấm dứt thời kỳ huấn luyện theo phương châm “huấn luyện qua cuộc sống và bằng cuộc sống”, và trở lại với mô hình huấn luyện tập trung theo đúng mô hình của Giáo luật (1989: Tập viện tại Du Sinh, Lâm Đồng. 1996: Học viện tại Thủ Đức, Quận 9 Sàigòn. 1998: Thỉnh viện tại Bình Giã, Bà Rịa-Vũng Tàu. 8/2008: Nhà tìm hiểu tại Thủ Đức, Quận 9 Sàigòn). - Các giai đoạn huấn luyện được tổ chức qui củ và công tác huấn luyện được phân công phân nhiệm rõ ràng hơn trước. - Thành lập Ban Mục Vụ Ơn Gọi: lên dự phóng tìm kiếm, tuyển lựa, huấn luyện và đồng hành ơn gọi mới trong giai đoạn tìm hiểu (thường kéo dài từ 2 đến 4 năm), trước khi bước sang các giai đoạn huấn luyện kế tiếp. - Công tác Thường Huấn được tổ chức qui mô hơn: Ban Thường Huấn tiếp tục gởi những bài học hàng tháng đến các cộng đoàn để anh em tự tổ chức học tập với nhau. Ngoài ra còn có những khóa bồi dưỡng tập trung cho những nhóm đối tượng khác nhau: các anh em linh mục làm mục vụ, các anh em mới chịu chức và mới khấn trọng trong vòng 5 năm, các anh em khấn sinh theo định hướng không linh mục, hoặc các khóa chuyên đề (về thánh Bonaventura, về Cảnh giới trong Phật Giáo). (x. Dấu Ấn Mọn Hèn, trang 233-237) C. Các giai đoạn huấn luyện hiện nay 1) Giai đoạn tìm hiểu: - Dành cho các em nam đã tốt nghiệp PTTH (lớp 12/12) và có thể ghi danh tìm hiểu ơn gọi Phan Sinh tại bất cứ cộng đoàn Phan Sinh nào gần nhất. - Trải qua một tuần lễ tĩnh tâm giúp định hướng ơn gọi, gọi là “Khóa Khám Phá Ơn Gọi”, thông thường được tổ chức hàng năm tại Tu viện Thủ Đức, vào khoảng thời gian cuối tháng bảy dương lịch. - Diện tập trung (tại Nhà tìm hiểu Thủ Đức): đối với những ứng sinh đã trúng tuyển, không tiếp tục học thêm tại các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học ngoài; hoặc đã học xong chương trình tại các trường nêu trên. Thời gian kéo dài từ 1 đến 2 năm. - Diện tập trung (tại một số cộng đoàn như Đakao, Thủ Đức, Vĩnh Phước): đối với những ứng sinh đã trúng tuyển, đang theo học tại các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học ngoài. Thời gian có thể kéo dài đến 4 hoặc 5 năm, tuỳ theo ngành học. - Tham dự một tuần lễ dã ngoại, giao lưu, học hỏi chung với nhau, gọi là “Khóa Đamianô”, thường được tổ chức hàng năm vào khoảng cuối tháng tám dương lịch. 2) Giai đoạn thỉnh sinh: - Dành cho các ứng sinh đã qua giai đoạn tìm hiểu và sau khi trải qua một tuần lễ giúp xác tín ơn gọi, gọi là “Khóa Đào Sâu Ơn Gọi”, thường được tổ chức hàng năm vào khoảng đầu tháng tám dương lịch. - Sống tập trung tại Nhà Thỉnh, thuộc Bình Giã, Bà Rịa-Vũng Tàu. Thời gian kéo dài trong vòng một năm. - Thực tập sống đời sống cộng đoàn, cầu nguyện, lao động và học tập một số môn nhập môn Kinh Thánh, Phụng vụ, Triết học …vv. - Cầu nguyện, suy nghĩ và trao đổi với những người đồng hành thiêng liêng và hữu trách, để tiến tới chọn lựa định hướng tu sĩ không linh mục hoặc tu sĩ linh mục. 3) Giai đoạn Tập viện: - Tiếp nối giai đoạn Thỉnh sinh, các ứng sinh sẽ nhận lãnh tu phục và bước vào giai đoạn Nhà Tập kéo dài trong vòng một năm. Sau năm tập là tuyên khấn lần đầu. - Tại Tập viện Du sinh, thuộc Đà Lạt, Lâm Đồng, các tập sinh học hỏi và thực tập đời sống cầu nguyện, một số môn truyền thống như: Luật Dòng, lịch sử Dòng, linh đạo Phan Sinh …vv. - Nhờ cầu nguyện và với sự đồng hành của những người hữu trách, các tập sinh xác tín ơn gọi Phan sinh và quyết định định hướng tu sĩ không linh mục hoặc tu sĩ linh mục. 4) Giai đoạn Khấn tạm: - Tất cả các khấn sinh sống tập trung tại Học viện Thủ Đức và trải qua khóa “Thần học cơ bản”, thường kéo dài hai năm. Sau đó, các khấn sinh sẽ có một năm được gởi đi thực tập sống chung tại các cộng đoàn, hoặc các địa điểm truyền giáo quốc nội. - Sau năm đi thực tập và trở về lại Học viện, các khấn sinh định hướng linh mục sẽ tiếp tục học thần học tại Học viện của Dòng và Học Viện Liên Dòng. Các khấn sinh định hướng không linh mục, tùy nhu cầu của Tỉnh Dòng và sự thẩm định của Ban Huấn Luyện, tùy khả năng và nguyện vọng của bản thân, có thể theo học các ngành nghề chuyên môn hoặc về sống và làm việc tại các cộng đoàn. - Vào những dịp mùa hè, có thể các khấn sinh sẽ được chia ra thành từng nhóm và được gởi đi tham gia công tác phục vụ mục vụ hoặc xã hội trong một thời gian ngắn. - Sau mỗi năm, các khấn sinh sẽ lặp lại lời khấn; và sau năm hoặc sáu năm, các khấn sinh có thể làm đơn xin khấn trọn. CÁC CƠ SỞ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHUYÊN NGÀNH Bản tính con cái vị Thánh Nghèo là đến với người nghèo đói khổ cực, bệnh hoạn tật nguyền, không có điều kiện để học chữ, học và hành nghề .v.v. Ngay từ ban đầu, các Anh em hèn mọn đã quan tâm đến công tác truyền giáo xã hội và giáo dục, tổ chức những trung tâm, những trường lớp để phục vụ cho anh chị em … Một số cơ sở tiêu biểu: 1) Về mặt xã hội: - Nhà hưu dưỡng Lạc Thiện, Nha Trang (1946) - Trung tâm giáo dưỡng thanh niên Pháp & Việt , Cầu Ông Lãnh, Sàigòn (6.1949) - Trung tâm bài cùi Núi Sạn, Đồng Đế, Nha Trang (1962 – 1975) - Trung tâm hưu dưỡng Phước Thiện, Rù Rì, Nha Trang (1956 – 1975) - Trung tâm Hansen Cửu Long, An Giang (8.1967 – 1999) - Trung tâm Hansen Tam Hiệp, Đồng Nai (1968 – 1975) 2) Về mặt giáo dục: - Trường tiểu học Nam Thông, Thanh Hải, Nha Trang (1953) - Trường tiểu học Thánh Antôn, Vĩnh Phước, Nha Trang (1958) - Trường Lavang và trường Mẫu tâm, Tiểu Cần. - Trường trung học Vạn Xuân, Cù Lao Giêng, An Giang (1959) - Trường trung học Hưng Đạo, Nha Trang (1965 – 1975) - Trường tiểu học Thánh Giuse, Quảng Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu (1992 – 1998) - Trường tiểu học tình thương Antôn, Cầu Ong Lãnh, Sàigòn (1989 – 2008) 3) Một số khác: - Trung tâm truyền giáo cho đồng bào ít người, Diên Khánh, Khánh Hòa - Hợp tác xã mành trúc, Cầu Ông Lãnh, Sàigòn (1975) - Cơ sở Giống cây trồng Phan sinh, Du Sinh, Đà Lạt, Lâm Đồng - Công ty xi mạ Phan Sinh (1994 – 2008) Ngoài ra, noi gương Đức Kitô, Đấng “đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình vì đoàn chiên”, tùy môi trường và điều kiện tại chỗ, cộng tác với nhiều tổ chức khác trong và ngoài nước, anh em còn tham gia hoạt động trong các lãnh vực khác với quy mô nhỏ hơn như: mở phòng khám và phát thuốc miễn phí, các lớp học tình thương tại giáo xứ; cộng tác phục vụ trong các phong trào hoặc các hoạt động như: Thanh Sinh Công, Pax Romana Vietnam, Phụng Vụ Các Giờ Kinh, Liên Tu sĩ …vv. Nói chung, từ sau năm 1975 đến nay, hầu hết các cơ sở phục vụ xã hội do anh em trong Dòng đảm nhận không còn nữa. Hiện nay, có ba cơ sở là: Chủng viện Phanxicô Thủ Đức (được Nhà Nước trao trả lại năm 1995), được trùng tu và mở rộng trở thành Học viện Phanxicô, để phục vụ cho nhu cầu huấn luyện và đào tạo tu sĩ trong Dòng, bước đầu với hai phân ban triết học và thần học. Tại đây, một nhà tĩnh tâm cũng được thiết lập, đáp ứng nhu cầu tìm về gặp gỡ Thiên Chúa của nhiều người. Cơ sở Giống cây trồng Phan sinh, Du Sinh, Đà Lạt, góp phần cải thiện đời sống của anh em và tạo công ăn việc làm cho những người dân nghèo tại địa phương. Cơ sở sở sản xuất tại Sông Bé, để anh em vừa lao động sinh sống vừa huấn luyện ơn làm việc cho các tu sĩ trong Dòng MỘT VÀI LỄ HỘI QUAN TRỌNG 04.10: Lễ Kính Cha Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di (Lễ Giỗ Tổ, LễBổn Mạng Tỉnh Dòng) 08.12: Lễ Kính Đức Trinh Nữ Maria VNNT (Bổn mạng Hội Dòng) 20.5.2004: Tạ ơn 75 năm lập Dòng tại Việt Nam (20.5.1929 – 20.5.2004) 04.10.2009: Mừng 800 năm lập Dòng và 80 năm Tỉnh Dòng Anh em hèn mọn Việt Nam (Anh em sẽ cử hành trong một năm trọn 04/10/2008-04/10/2009) II. NHẬN ĐỊNH Qua những thăng trầm của đất nước và Giáo hội Việt Nam, nhờ ơn Thiên Chúa trợ giúp, các Anh em hẹn mọn Việt Nam vẫn giữ vững được chân tính của mình, đó là sống đời sống huynh đệ trong tinh thần nghèo khó bé nhỏ, để phục vụ hạnh phúc của anh chị em mình. Anh em hiểu rằng con số các ơn gọi vẫn đến với đời sống Phan sinh là một sự chuẩn nhận và khích lệ Thiên Chúa ban cho anh em. III. HƯỚNG TỚI Tỉnh Dòng một đàng phải tiếp tục tìm ra những phương thức hợp thời mà huấn luyện các tu sĩ của mình, qua giai đoạn huấn luyện khởi đầu cũng như thường huấn, đồng thời phải đáp ứng tiếng gọi lên đường truyền giáo trong nước cũng như tại nước ngoài. Đấy là những thách đố mà anh em phải can đảm đón lấy và sáng suốt tìm ra các giải pháp. Với ơn Chúa Ba Ngôi trợ giúp, với sự hướng dẫn liên tục của Giáo hội cũng như của Hội dòng, và sự hỗ trợ khiêm tốn nhưng không kém phần hữu hiệu của mọi anh chị em xa gần, anh em tin tưởng rằng anh em sẽ tiếp tục đi tới trong sự phong phú và trong niềm vui. IV. MỘT SỐ ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC Tu viện Phanxicô Đakao - 03 Mai Thị Lựu, Đakao, Quận I, Tp HCM - Tel 08.8222294 – Email: ofmvietnam@gmail.com Tu viện Phanxicô Cầu Ông Lãnh - 18 Phan Văn Trường, Quận I, Tp HCM - Tel 08.8299810 – Email: tutinofm@gmail.com Học viện Phanxicô Thủ Đức - 42 Đình Phong Phú, Kp 2, P. Tăng Nhơn Phú Quận 9, Tp HCM - Tel 08. 8960017 – Email: giusetiendung@yahoo.fr ____________________ Nguồn: ofmvn DÒNG PHANXICO HAY CÒN GỌI DÒNG ANH EM HÈN MỌN Dòng Anh Em Hèn Mọn, do thánh Phanxicô thành Atxidi sáng lập, là một huynh đệ đoàn, tro... Xem thêm »
Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn 16.10.16 Ơn gọi ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN (từ 1960 đến nay) Lời giới thiệu Trong năm 2013, Tổng giáo phận Sài Gòn hân hoan mừng kỷ niệm 150 năm thành lập Chủng viện Thánh Giuse - Sài Gòn. Trong dịp kỷ niệm này, một trong những điều cần thiết là ôn lại quá khứ, để tạ ơn Thiên Chúa về biết bao hồng ân Chúa ban cho chủng viện nhờ lời chuyển cầu của Thánh Cả Giuse; đồng thời để tri ân các bậc tiền nhân đã tích cực cộng tác với Chúa Thánh Thần trong việc đào tạo nhiều thế hệ linh mục đã và đang làm việc trong vườn nho của Chúa. Nói riêng về giai đoạn 1960 – 2012, hơn ai hết, cha Phaolô Lê Tấn Thành là người am hiểu nhất, vì ngài là giáo sư chủng viện từ năm 1960 - 1987, Phó giám đốc từ năm 1987-1992, rồi làm Giám đốc chủng viện từ năm 1992-2005. Vì thế tôi đã xin ngài ghi lại những nét chính về chủng viện Thánh Giuse trong giai đoạn này. Ngài đã vui lòng nhận lời và gửi cho tôi bài viết về Đại chủng viện Thánh Giuse - Sài Gòn (từ năm 1960 đến nay). Xin trân trọng giới thiệu với độc giả, cách riêng các giám mục và linh mục, cũng như các cựu chủng sinh xuất thân từ ngôi trường đáng kính này. Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm I. Việc đào tạo linh mục trong giáo phận Sài Gòn những năm 1960 Trong những năm đầu thập niên 1960, việc đào tạo linh mục được thực hiện tại Đại Chủng viện (ĐCV) Thánh Giuse, số 6 đường Cường Để, với cha André Lesouef, thuộc Hội Thừa sai Paris, làm Giám đốc từ năm 1952. Ngoài ra, còn có nhiều nơi khác như chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu, số 4 đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định; chủng viện Xuân Bích, trong khuôn viên dòng thánh Phaolô thành Chartres, Thị Nghè, qui tụ các chủng sinh di cư của 10 giáo phận Miền Bắc. Để việc đào tạo được thống nhất, các Đấng Bề trên quyết định sáp nhập các chủng sinh di cư vào một ĐCV duy nhất trong giáo phận là ĐCV Thánh Giuse nói trên. Lúc ấy, ĐCV Thánh Giuse chỉ có một ngôi nhà 3 tầng được xây dựng từ năm 1932, không thể đủ chỗ ở cho chủng sinh. Vì thế, việc sáp nhập sẽ được thực hiện trong ba giai đoạn. Về mặt nhân sự, cha Giuse Phạm Văn Thiên, Sài Gòn, được bổ nhiệm làm Giám đốc; phó Giám đốc ban Thần học là cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ, Lạng Sơn; cha Đaminh Trần Thái Hiệp, Bùi Chu, phó Giám đốc Ban Triết học. Ban giáo sư gồm 10 linh mục từ các giáo phận: Sài Gòn, Bùi Chu, Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Phát Diệm. Từ năm học 1962-1963, có thêm nhiều linh mục cả triều lẫn dòng tu nữa. (xem Phụ lục I) Trường sở là ngôi nhà ba tầng, số 4 đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định của các linh mục Bùi Chu cho mượn trong hai năm. Giai đoạn 1: năm học 1960 - 1961 Ban Triết học qui tụ các chủng sinh mới địa phương và di cư, Ban Thần học qui tụ các chủng sinh di cư. Giai đoạn 2: năm học 1961 - 1962 Ban Triết học tiếp tục ở lại, chờ hai khu nhà 3 tầng được xây dựng ở số 6 đường Cường Để mới dời đi. Ngôi nhà mới cho Ban Thần học đã được xây dựng xong. Cha Giám đốc A. Lesouef đã từ chức, Cha Giám đốc Giuse Phạm Văn Thiên và các cha giáo sư Thần học cùng với các thầy sang Đại Chủng viện Thánh Giuse số 6 đường Cường Để, sáp nhập với các thầy địa phương. Cha Giuse Thân Văn Tường làm phó Giám đốc thay thế cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ đã được bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Long Xuyên từ ngày 24 tháng 11 năm 1960. Giai đoạn 3: năm học 1962 - 1963 Cha phó Giám đốc Đaminh, các cha giáo và các thầy sang qua hai ngôi nhà mới của Ban Triết vừa xây dựng xong ở 6 Cường Để. Tổng số các thầy năm học nầy là 235. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn, việc giảng dạy và học tập sử dụng tiếng Việt, không còn dùng tiếng La tinh hay tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Ban Giám đốc và Ban giáo sư toàn là người Việt nam. Đại đa số đã học tại những Đại học Công giáo Âu châu như Rôma - Ý, Paris - Pháp, Fribourg - Thuỵ sĩ , Louvain - Bỉ, và sau nầy ở những nước như Đức, Mỹ hay Úc. Từ năm 1963 đến năm 1975 có thêm các cha triều và dòng tham gia công việc giảng dạy nữa. Việc giảng dạy và học tập được thực hiện và hỗ trợ hiệu lực hơn, nhờ những văn kiện của công đồng Vatican II: Sắc lệnh Optatam totius về việc Đào tạo linh mục, và Presbyterorum ordinis về Đời sống và Tác vụ linh mục , nhất là sau nầy còn có Tông huấn Pastores dabo vobis. Như vậy, lịch sử Đại Chủng viện Thánh Giuse có thêm một trang mới từ năm 1960. Cũng chính trong năm nầy, lịch sử Giáo hội Việt Nam ghi nhận một kỷ nguyên mới: việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 24 tháng 11 năm 1960. II. Hàng Giáo phẩm Việt Nam Ngày 9 tháng 9 năm 1659, Toà Thánh đã bổ nhiệm 2 linh mục Hội Thừa sai Paris: cha Pallu làm Giám mục Đại diện Tông Toà Địa phận Đàng Ngoài và cha Lambert de la Motte làm Giám mục Đại diện Tông Toà Đàng Trong. Trước năm 1960, các giám mục ở Việt Nam đều là giám mục hiệu toà, thay mặt Đức Giáo hoàng quản trị phần lãnh thổ mang tên Hạt Đại diện Tông toà. Từ ngày 24 tháng 11 năm 1960, ngày Hàng giáo phẩm Việt Nam được thiết lập, các giám mục là giám mục chánh toà, quyền hành của các ngài là: thông thường, riêng biệt, trực tiếp [Giáo Luật khoản 381 & 1]. (Hiệu toà là tên một giáo phận, giáo tỉnh thời xưa miền Trung Đông hay Bắc Phi, ví dụ: ĐTGM Phaolô Nguyễn Văn Bình, hiệu toà Agnusiensis, giáo tỉnh Ai Cập, toà giám mục là Alexandria; ĐGM Louis Phạm Văn Nẫm hiệu toà Acufidensis, giáo tỉnh Mauritania...) Có 3 giáo phận mới được thiết lập: Long Xuyên tách ra từ giáo phận Cần Thơ, Mỹ Tho và Đà Lạt tách ra từ giáo phận Sài Gòn. Bốn Giám mục mới, được tấn phong ngày 22 tháng 1 năm 1961 tại Sài Gòn: - Antôn Nguyễn Văn Thiện, giám mục giáo phận Vĩnh Long, - Micae Nguyễn Khắc Ngữ, giám mục giáo phận Long Xuyên, - Giuse Trần Văn Thiện, giám mục giáo phận Mỹ Tho, - Philipphê Nguyễn Kim Điền, giám mục giáo phận Cần Thơ. Như đã kể trên, Đại Chủng viện Thánh Giuse được vinh dự đầu tiên là cha Phó Giám đốc Micae Nguyễn Khắc Ngữ được bổ nhiệm làm Giám mục Long Xuyên. Cha Giuse Thân Văn Tường làm Phó giám đốc thay thế ngài. Năm 1961, Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, từ Cần Thơ được chuyển về làm Tổng Giám mục Sài Gòn. Từ năm học 1962 - 1963 đến năm 1966, sinh hoạt ổn định. Trong thời gian nầy cũng có 2 sự kiện đáng ghi nhận: - Các thầy di cư chọn gia nhập một trong ba giáo phận Sài Gòn, Mỹ Tho hay Đà Lạt. - Phân nửa số chủng sinh độ tuổi 20, 21 phải đi quân dịch một thời gian. Cuối năm 1965, Toà Thánh thiết lập 2 giáo phận mới từ giáo phận Sài Gòn: - Xuân Lộc ngày 11 tháng 10, và chọn linh mục Giuse Lê Văn Ấn, được tấn phong Giám mục giáo phận ngày 8 tháng 1 năm 1966, làm Giám mục giáo phận; - Phú Cường ngày 14 tháng 10 năm 1966, và chọn Cha Giám đốc ĐCV Sài Gòn Giuse Phạm Văn Thiên, được tấn phong Giám mục giáo phận ngày 6 tháng 12 năm 1966. Một vinh dự nữa dành cho Đại Chủng viện Thánh Giuse. Cha Giacôbê Nguyễn văn Mầu được bổ nhiệm làm Giám đốc chủng viện năm 1966, thay cho Đức Cha Giuse Phạm Văn Thiên. Năm 1968, Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện, giám mục giáo phận Vĩnh Long, vì lý do sức khoẻ đã từ chức để qua Pháp chữa bịnh. Cha Giám đốc Giacôbê được Toà Thánh bổ nhiệm thay thế Đức Cha Antôn. Cha Giacôbê đươc tấn phong Giám mục ngày 12 tháng 9 năm 1968. Đây là lần thứ ba Đại Chủng viện Thánh Giuse được một vinh dự nữa. Cha Giám đốc kế tiếp là cha Phaolô Huỳnh Ngọc Tiên. Vào giữa tháng 4 năm 1975, cùng với hai cha Giám đốc ĐCV Vĩnh Long và Long Xuyên, Cha Giám đốc Phaolô sang Rôma tham dự một hội nghị về Đại Chủng viện. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cha không trở về Việt Nam được. Cha qua Paris tạm cư và qua đời tại đó; Cha Đaminh Trần Thái Hiệp làm Giám đốc thay thế. III. Đại Chủng viện Thánh Giuse sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 1. Giai đoạn 1975 - 1986: Chờ đợi, Lao động Sau 30/4/1975, chỉ còn chủng sinh thành phố chưa học xong được tiếp tục học trong một ít học kỳ 3 tháng, chương trình học gồm những môn học chủ yếu. Các thầy đã học xong phải chờ được phong chức, cũng như những thầy chưa học hết chương trình chờ ĐCV được mở lại. Trong thời gian chờ đợi, các thầy học xong đi lên một nông trường ở huyện Củ Chi tham gia với những tu sĩ trong công việc canh tác trồng trọt. Các thầy khác ở tại trường hay ở nhà tham gia lao động sản xuất của một Hợp tác xã chuyên sản xuất mành trúc để xuất khẩu. Ngoài ra, chính các thầy cũng có một Tổ hợp sản xuất vỏ xe đạp tại cơ sở ĐCV. 2. Giai đoạn 1986 - 1987: Đại Chủng viện hoạt động trở lại Bằng văn bản số 44/BTG đề ngày 18/11/1986, ĐCV được hoạt động trở lại. Trường nhận chủng sinh của 6 giáo phận: Thành phố HCM, Đà Lạt, Mỹ Tho, Phan Thiết, Phú Cường, Xuân Lộc. Khoá I 1986 - 1992 có 50 chủng sinh. Sau 6 năm mới được mở khoá II. Số chủng sinh được ấn định là 30. Lễ khai giảng khoá I được tổ chức long trọng ngày 06 tháng 2 năm 1987. Ban Giám đốc gồm: - cha Đa Minh Trần Thái Hiệp, Giám đốc, - cha Phaolô Lê Tấn Thành, Phó Giám đốc thường trực, - cha Gioan Bt. Huỳnh Công Minh, Phó Giám đốc. 3. Giai đoạn 1987 - 2005 Vì lý do sức khoẻ của cha Giám đốc, công việc điều hành ĐCV đều do 2 Phó Giám đốc đảm nhận. Năm 1992, cha Đaminh Trần Thái Hiệp qua đời, và cha Phaolô Lê Tấn Thành chính thức nhận chức vụ Giám đốc ĐCV Thánh Giuse từ đó cho đến ngày 25 tháng 6 năm 2005, khi ngài xin nghỉ hưu. Về ban giáo sư, ngoài các cha triều và dòng tu ở thành phố, còn có các cha đại diện 5 giáo phận khác tham gia. Năm 1990, Ban Tôn giáo Chánh phủ cho mở khoá II. Số chủng sinh vẫn là 50, được phân phối riêng cho mỗi giáo phận. Định kỳ tuyển sinh sẽ là mỗi 3 năm một lần, theo văn bản 207CV/TCCP ngày 14/11/1990. Tuy nhiên đến năm 1993 lại có Thông báo 24 TB/TGCP, trường được chiêu sinh mỗi 2 năm một lần. Thông báo nầy sẽ được áp dụng cho đến năm 2006, trường mới được chiêu sinh mỗi năm một khoá. Khoá III đã bắt đầu từ ngày 01 tháng 10 năm 1993. IV. Cơ sở 2 Đại Chủng viện Thánh Giuse Theo Thông báo kể trên, số chủng sinh đã tăng lên trong những năm tới. Do nhu cầu về nhân sự và cơ sở, ngày 18 tháng 10 năm 1993, Ban Giám đốc đã thỉnh cầu Hội đồng Giám mục Việt Nam kiến nghị với Chánh quyền cho mở thêm một Đại Chủng viện nữa. Trải qua những trao đổi của các Giám mục liên quan cũng như của Ban Giám đốc, ngày 26.10.1999 HĐGM Việt Nam được Ban Tôn giáo Chánh phủ thông báo: “về ý kiến của Thủ tướng Chánh phủ đồng ý cho Giáo hội Công giáo mở Cơ sở 2 Đại Chủng viện Thánh Giuse tại Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai”. Ban Giám đốc đã tiến hành lập đề án tổ chức cụ thể cơ sở 2, và ngày 27.12.1999 đã gởi đề án cho những nơi được chỉ định. Thế rồi, trong thời gian chờ đợi được mở Cơ sở 2, lại xảy ra những khó khăn, trở ngại từ nhiều phía, kéo dài nhiều năm, như có kiến nghị được mở một ĐCV khác và dưới sự điều hành của một ban đào tạo khác, như trường hợp ở một giáo phận miền Trung. Cũng may là bất khả thi. Cuối cùng, cơ sở 2 cũng được hoạt động. Ngày 15-10-2006, Cơ sở 2 tại Xuân Lộc bắt đầu năm học mới. Từ năm 1993, 6 giáo phận được gởi một số linh mục xuất thân từ Đại Chủng viện Thánh Giuse đi du học ở nước ngoài: Pháp, Ý, Úc, Mỹ. Trước tiên, Tổng Giáo phận TPHCM đã gởi 6 linh mục sang Paris, học tại Đại học Công giáo, kế tiếp, gởi 4 linh mục sang học tại Rôma. Các giáo phận khác cũng lần lượt gởi linh mục du học nước ngoài. Như đã nói, trong thời gian từ 1960 đến 1975, Đại Chủng viện được vinh dự có 3 người trong Ban Giám đốc làm Giám mục giáo phận Long Xuyên, Phú Cường và Vĩnh Long. Đối lại, sau năm 1975, Ban giáo sư được danh dự thấy những bạn “đồng nghiệp” được tấn phong Giám mục: 1. Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm giáo sư Giáo Luật, hiện nay Giám mục giáo phận Bà Rịa , 2. Cha Phêrô Trần Đình Tứ, giáo sư Phụng Vụ, Giám mục giáo phận Phú Cường, vừa nghỉ hưu, 3. Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, giáo sư Thần học Tín lý, Giám mục giáo phận Mỹ Tho, 4. Cha Giuse Võ Đức Minh, giáo sư Thánh Kinh, Giám mục giáo phận Nha Trang. 5. Cha Giuse Vũ Duy Thống, giáo sư Giáo hội học, Giám mục giáo phận Phan thiết, 6. Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giáo sư Giảng thuyết, Giám mục Phụ tá, Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh. V. Đại Chủng viện Thánh Giuse từ năm 2005 Ngày 26.11.2005, từ giáo phận Xuân Lộc, một giáo phận mới được thiết lập: giáo phận Bà Rịa. Đức cha Phụ tá Xuân Lộc, Tôma Nguyễn Văn Trâm, được bổ nhiệm giám mục giáo phận Bà Rịa. Đại Chủng viện Thánh Giuse-Sàigòn chỉ còn dành cho chủng sinh của các giáo phận Sài Gòn, Mỹ Tho và Phú Cường. Đại Chủng viện ở Xuân Lộc nhận chủng sinh của các giáo phận Xuân Lộc, Đà Lạt, Phan Thiết và Bà Rịa. Ngày 25 tháng 6 năm 2005, Cha Phaolô Lê Tấn Thành thôi giữ chức Giám đốc ĐCV. Đại Chủng viện Thánh Giuse có cha Giám đốc mới là Cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng. Ngài điều hành ĐCV từ năm 2005 đến 2011. Hiện nay, Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn là Cha Gioakim Trần Văn Hương. PHỤ LỤC I. ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE 1960 - 1975 Các cha Giám đốc ĐCV, từ năm 1960 đến năm 1975: * Cha Giuse Phạm Văn Thiên từ năm học 1960 - 1961 đến khi cha được tấn phong Giám mục giáo phận Phú Cường ngày 14. 10. 1965. * Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu được bổ nhiệm Giám đốc thay thế từ năm 1966 cho đến khi được tấn phong Giám mục giáo phận Vĩnh Long ngày 12. 09. 1968. Tiếp theo là, * Cha Phaolô Huỳnh Ngọc Tiên làm Giám đốc cho tới năm 1975. Các cha Phó Giám đốc: Năm học 1960 - 1961, học kỳ I, Phó Giám đốc ban Thần học là cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ. Sau khi cha được tấn phong Giám mục giáo phận Long Xuyên, cha Giuse Thân Văn Tường thay thế ngài. Phó Giám đốc ban Triết là cha Đaminh Trần Thái Hiệp. A/ Năm học 1960 –1961 B/ Kể từ năm học 1962 - 1963, ĐCV có thêm những cha sau đây: Lưu ý: A/ Có trường hợp cha M. Phạm Hảo Kỳ được qua TCV làm Linh hướng, vì thế cha GB Huyên thay thế. Trừ cha M. Nguyễn Khắc Ngữ và cha A. Phùng Thành, các cha giáo đều phục vụ cho tới 1975. B/ Trừ 2 cha ngoại trú, các cha khác đều phục vụ cho đến năm 1975. II. TIỂU CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN A. Ngôi nhà cổ kính đã được xây dựng năm 1863 Mục đích: nhà ba tầng dùng làm phòng và lớp học cho chủng sinh và phòng riêng cho cha Bề trên và các cha giáo sư. Khi có ngôi nhà mới năm 1928, một số phòng nhà cổ dành làm phòng học và phòng lớp cho những chủng sinh hai năm đầu tiên: lớp 8 và lớp 7. Trong thời gian chiến tranh 1939-1945, khi nhà mới bị chiếm dụng, một số phòng khác còn dành cho chủng sinh các lớp lớn. Sau năm 1975, nhà cổ được một hợp tác xã mượn để tổ chức sản xuất và xuất khẩu mành trúc. Khoảng năm 1990, sau khi Đại Chủng viện hoạt động trở lại năm 1986, Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình dự định dùng làm nhà Hưu dưỡng linh mục giáo phận, nhưng không thực hiện được, nên ngài dùng làm Nhà Truyền thống giáo phận Sài Gòn. B. Ngôi nhà được xây dựng năm 1928 Nhà nầy dành cho sáu lớp lớn: các lớp 6, 5, 4, 3, 2 và 1, và sẽ được trùng tu năm 1963 cho hợp với kiến trúc của ba khu nhà mới Thần học và Triết học Đại Chủng viện. Khi quân đội Nhật xâm chiếm miền Đông Nam Á năm 1941-1942, trường Taberd Sài Gòn bị quân đội Nhật chiếm dụng. Trường được sử dụng ngôi nhà Tiểu Chủng viện (TCV) đến khi chiến tranh chấm dứt. Sau đó, ngôi nhà TCV lại bị trưng dụng, làm Trung tâm Tiếp đón những gia đình Việt Pháp và có quốc tịch Pháp tạm trú, cho đến ít là cuối năm 1948 để di cư sang Pháp. Để tránh bom đạn chiến tranh, năm 1944 các chủng sinh TCV phải di tản: bốn lớp 8, 7, 6 và 5 lên tạm trú tại gần nhà thờ Lái Thiêu, còn bốn lớp 4, 3, 2 và 1 đi xuống tạm trú tại Cái Nhum, trong ngôi nhà ba tầng của dòng Kitô Vua cho mượn. Các thầy ĐCV cũng lên tạm trú tại Trường học nam của giáo xứ Lái Thiêu, nhưng một ít lâu lại dời xuống Vĩnh Long. Công việc giảng dạy và học tập của chủng sinh cũng như của các thầy vẫn được tiếp tục ở những nơi đó. Sau chiến tranh, từ năm 1946, TCV và ĐCV trở về Sài Gòn. Tuy nhiên, như kể trên, ngôi nhà TCV vẫn bị chiếm dụng, cũng như lúc bị trường Taberd sử dụng, các chủng sinh TCV đành phải sử dụng các phòng của ngôi nhà được xây dựng năm 1863, và một nhà trệt với tường gạch trơ trụi, không có lớp xi măng bên ngoài, cùng với một nhà trệt khác của ĐCV. (Nhà trệt khác nầy sẽ được ĐCV sử dụng làm phòng khách và hội trường cho những lớp học chung hay cho những buổi giảng cấm phòng hằng năm của giáo phận từ năm 1987, và được triệt hạ sau năm 2005). Có thể nói: những chủng sinh nhập học TCV từ năm 1939 đến năm 1948 đã không được dịp ở và học tập trong ngôi nhà được xây dựng năm 1928. Sau 1975, Bộ Tài chánh mượn ngôi nhà nầy cho trường Tài chánh Kế toán. Và từ năm 1985, lại có hợp đồng cho mượn thêm 25 năm nữa. Có dự định bán luôn nhà đất cho Bộ, nhưng - có thể nói là may mắn - dự định đó bất khả thi. Qua nhiều lần trao đổi, kiến nghị với trường Tài chánh Kế toán, cuối cùng trường đã trả nhà lại cho giáo phận năm 2004. Từ đó, Đức Hồng y Gioan Baotixita cho sử dụng ngôi nhà làm Trung Tâm Mục vụ giáo phận, dưới sự điều hành của Đức cha Phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Khảm. Chí Hoà, ngày 28.1.2013 Lm. Phaolô Lê Tấn Thành ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN (từ 1960 đến nay) Lời giới thiệu Trong năm 2013, Tổng giáo phận Sài Gòn hân hoan mừng kỷ niệm 1... Xem thêm »