Hướng đến ngày cầu nguyện cho ơn gọi 2013 30.1.16 Ơn gọi , Thiêng liêng Hướng đến ngày cầu cho ơn gọi, được hiểu là ngày cầu cho ơn gọi Linh mục - Tu sĩ. Méo gởi đến cả nhà một vài chia sẻ và cũng là thắc mắc của nhiều bạn về ơn Thiên triệu! (Ps: trích dẫn từ trang web của dòng Phan sinh thừa sai Đức mẹ - fmmvn.net) 1. Các linh mục và các tu sĩ nam nữ làm gì suốt ngày? Cũng như đa số người lớn, họ dành thời gian để làm việc hằng ngày. Họ gọi công việc là bổn phận kiểu mẫu và động cơ vì Chúa Giêsu, Đấng yêu cầu họ noi gương Ngài phục vụ Dân Chúa. Nhưng họ không chỉ làm việc! Để sống lành mạnh và cân bằng, hãy cố gắng cầu nguyện bằng nhiều cách. Cầu nguyện, nhiệm vụ và vai trò là 3 cách giúp họ sống lành mạnh để có thể phục vụ hiệu quả và vui sống. Trong lĩnh vực nhiệm vụ hoặc chức vụ, nhiều linh mục và tu sĩ có nghề chính – như dạy học, phục vụ giáo xứ, hoạt động xã hội, hoặc làm việc trong bệnh viện. Thời khóa biểu hằng ngày có thể khác so với người khác. Họ thường hội họp vào buổi tối, linh mục xứ thường làm việc vào các ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, đồng thời dành một số thời gian nghỉ ngơi trong tuần. Nhu cầu không thể biết trước cũng làm cho cuộc sống phong phú. Điều trung tâm này thường thỏa mãn nhu cầu của con người, dù đó là học sinh, gia đình chuẩn bị cử hành các bí tích, hoặc bệnh nhân, người lớn, người tức giận, người bị thương, người đói, hoặc tù nhân. Họ cố gắng chia sẻ cuộc sống với người khác và khám phá Đức Kitô trong công việc. Những người là thành viên của các dòng chiêm niệm (chuyên cầu nguyện) hằng ngày kết hợp công việc, cầu nguyện, và nghỉ ngơi. Sự khác biệt là họ dành nhiều thời gian để cầu nguyện hơn các tu sĩ và linh mục khác. Đôi khi họ tự trồng cây làm lương thực và sản xuất thứ gì đó để kiếm thu nhập – có thể là làm bánh lễ, làm nến, làm ảnh tượng, làm rượu lễ, đóng sách,... Việc cầu nguyện của họ thường là Thánh Lễ, cầu nguyện riêng (gọi là chiêm niệm), đọc sách thiêng liêng, và những giờ kinh nhật tụng (kinh của Giáo Hội, chủ yếu là Lời Chúa, Thánh Thi và Thánh Vịnh). 2. Cầu nguyện quan trọng thế nào trong cuộc sống? Vì họ đã chọn đời sống tu trì, sống theo lời khuyên Phúc Âm, việc cầu nguyện phải là trung tâm của đời sống của họ. Hãy nghĩ về việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, giống như việc giao tiếp xảy ra giữa hai người yêu nhau. Mối quan hệ giữa họ với Thiên Chúa phải phát triển sâu sắc qua việc cầu nguyện. Vì cầu nguyện là việc quan trọng, nhiều linh mục và tu sĩ dành khoảng hai giờ (hoặc hơn) để cầu nguyện mỗi ngày. Điều quan trọng là việc tham dự Thánh Lễ hằng ngày. Họ cũng có những dạng cầu nguyện chính thức khác như kinh Phụng vụ và lần Chuỗi Mân Côi, hoặc đọc sách thiêng liêng và đọc Kinh Thánh. Họ cũng có những giờ cầu nguyện riêng, có thể là đọc sách đạo đức hoặc thinh lặng trước mặt Chúa. Một trong các hiệu quả của việc cầu nguyện là giúp họ nhận biết hoạt động của Chúa qua con người, các sự kiện, và đời sống hằng ngày. 3. Cầu nguyện có dễ đối với bạn? Không phải lúc nào cũng dễ đâu! Ngay cả những người sống đời tu chiêm niệm cũng có lúc cảm thấy “nguội lạnh” khi giờ cầu nguyện có vẻ đơn điệu hoặc quá bình thường. Khi chúng ta có kinh nghiệm cầu nguyện, chúng ta sẽ biết cách điều chỉnh những thay đổi. Chúng ta thường phụ thuộc vào sự nâng đỡ của cộng đoàn hoặc vị linh hướng (như huấn luyện viên vậy) sẽ giúp chúng ta vẫn giữ cầu nguyện trong những lúc khó khăn. Hãy cố gắng và đừng cảm thấy phụ thuộc bất cứ thứ gì. 4. Điều gì khác nhau giữa linh mục triều (linh mục giáo phận) và linh mục dòng? Thông thường, linh mục triều phục vụ Giáo Hội trong phạm vi giáo phận của mình, thường là các giáo dân ở các giáo xứ, nhưng cũng có thể liên quan nhiều dạng khác như dạy học, làm y bác sĩ, làm tuyên úy,... Linh mục dòng thường vượt qua giới hạn giáo phận. Họ sống khó nghèo, độc thân, và vâng lời giữa cộng đoàn. Cộng đoàn chia sẻ chung về quan điểm, tâm linh, và thường nhấn mạnh một dạng nhiệm vụ nào đó. 5. Điều gì khác nhau giữa tu sĩ và linh mục? Tu sĩ là tín hữu tận hiến cho Đức Kitô qua lời khấn khó nhèo, khiết tịnh, và vâng lời. Tu sĩ sống trong cộng đoàn và làm việc phù hợp với khả năng. Họ có thể là giáo viên, nấu ăn, luật sư, kỹ thuật viên, giúp xứ,... Họ cố gắng sống đức tin bằng cách là huynh đệ của mọi người. Linh mục là tín hữu được giao sứ vụ cử hành các bí tích Thánh Thể, Rửa tội và Hôn phối, đồng thời đem Chúa đến với mọi người qua các bí tích Hòa giải và Xức dầu. Linh mục cũng làm nhiều việc khác nhau – thường xuyên nhất là những việc liên quan giáo xứ – nhưng đời sống bí tích phải là đặc vụ. 6. Các dòng tu khác nhau thế nào? Mỗi hội dòng có một đặc sủng, một cách riêng phục vụ Giáo Hội, giúp họ tập trung vào việc hoàn tất sứ vụ trong cộng đoàn. Sứ vụ này có thể là cầu nguyện trong tu viện, cũng có thể là hoạt động nhằm hợp tác với tha nhân. Nhiều hội dòng chuyên về công việc trí tuệ hoặc công việc bình thường, nhưng mỗi dòng đều có điểm khác nhau. Nhiều dòng nam và nữ được thành lập trong thời gian việc đi lại và giao tiếp bị hạn chế. Một số dòng được thành lập vì mục đích riêng. Ngày nay, các cộng đoàn mới vẫn tiếp tục hình thành để đáp lại tiếng Chúa mời gọi người ta đạt tới dạng nào đó thuộc tâm linh, cộng đoàn, và sứ vụ. 7. Phải mất bao lâu để trở nên linh mục? Nói chung, phải qua ít nhất 3 năm triết học và 4 năm thần học. Các chủng sinh học ở các đại chủng viện, các tu sĩ học ở các học viện, riêng của dòng hoạc liên dòng. 8. Bạn gia nhập cộng đoàn tu thế nào? Quá trình gia nhập cộng đoàn tu phải mất một thời gian và qua vài giai đoạn. Thời gian có thể lâu hay mau, tùy dòng, cơ bản là: Liên lạc: Người quan tâm đời sống tu trì cần tìm hiểu xem Ý Chúa muốn gì nơi mình. Họ có thể tham gia chương trình tìm hiểu ơn gọi ở một dòng nào đó. Chương trình đào tạo thường linh động. Hằng tháng, họ thường gặp một linh mục hoặc một tu sĩ, được chia sẻ về kinh nghiệm cầu nguyện và đời sống cộng đoàn. Ứng sinh: Thời gian này giúp họ có thể tham dự vào đời sống cộng đoàn. Họ phải thể hiện sự quan tâm và và được cộng đoàn chấp nhận là thành viên trong quá trình tham gia. Ứng viên sống trong cộng đoàn khi vẫn tiếp tục học tập và làm việc. Giai đoạn này cũng giúp cộng đoàn nhận xét xem ứng viên có thể sống đời sống chung hay không. Thời gian có thể kéo dài 1 tới 2 năm. Tập sinh: Vào nhà tập là giai đoạn kế tiếp trong chương trình đào tạo. Giai đoạn này có thể là 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm để chuẩn bị chính thức bước vào đời sống cộng đoàn. Vào nhà tập là thời gian học hỏi và cầu nguyện để biết thêm về chính mình, về cộng đoàn, và mối quan hệ với Chúa Giêsu. Cuối thời gian tập, các tập sinh chuẩn bị tiên khấn (sơ khấn, khấn lần đầu, khấn tạm). Khấn sinh: Ba lời khấn vâng lời, khó nghèo, và khiết tịnh (thanh tuân, thanh bần, thanh khiết) có thể cho thời gian 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm, tùy quy định mỗi dòng. Các lời khấn này có thể được khấn lại hằng năm. Thời gian khấn tạm thường là 3 năm, sau đó là vĩnh khấn (khấn trọn đời). Tu sĩ nào được học làm linh mục cũng phải trải qua thời gian đào tạo như các chủng sinh. Ngoài triết học và thần học, các ứng viên còn được đào tạo về Kinh Thánh, các Giáo huấn của Giáo Hội, các kỹ năng cần thiết cho sứ vụ linh mục. 9. Các linh mục và các tu sĩ nam nữ thề hứa điều gì? Các tu sĩ và linh mục dòng khấn ba lời khấn, một số dòng còn thêm 1 hoặc 2 lời khấn khác nữa. Có ba lời khấn phổ biến nhất: Nghèo khó – Mọi thứ là của chung, sống giản dị, và nhận biết mình lệ thuộc vào Thiên Chúa. Khiết tịnh – Yêu mến Chúa, phụng sự Chúa và phục vụ mọi người, chứ không yêu người khác. Sống độc thân để minh chứng tình yêu dành cho Thiên Chúa. Tuân phục – Sống đời sống cộng đoàn, cố gắng lắng nghe và làm theo Ý Chúa bằng cách tham dự vào mọi sinh hoạt của cộng đoàn. 10. Linh mục triều thề hứa điều gì? Linh mục triều khấn giữ khiết tịnh và vâng lời giám mục (đấng bản quyền). Họ không khấn khó nghèo, nhưng họ vẫn phải cố gắng sống giải dị để có thể phụng sự Thiên Chúa qua việc phục vụ mọi người. 11. Linh mục và tu sĩ có thể hò hẹn? Không thể hò hẹn yêu đương, vì mối quan hệ này sẽ dẫn tới hôn nhân, mà khấn độc thân nghĩa là không được kết hôn. Tuy nhiên, ai cũng cần có tình bạn trong sáng, những mối quan hệ cần thiết, dù là đối với nam hoặc nữ. 12. Các tu sỹ có bao giờ bị người khác phái hấp dẫn? Dĩ nhiên vẫn có! Họ vẫn có những mối quan hệ bình thường, những cảm giác và những ước muốn. Họ chọn đời sống độc thân là hướng cảm xúc của họ vào chiều hướng tốt lành. Họ phải cố gắng trung thành với lời khấn khiết tịnh qua việc cầu nguyện, kết hiệp với Đức Kitô, những tình bạn tốt đẹp,... 13. Nếu bạn yêu thì sao? Trách nhiệm cơ bản trong tình trạng như vậy là duy trì lời khấn của một tu sĩ hoặc linh mục. Cố gắng phát triển mối quan hệ trong giới hạn và trách nhiệm của lời khấn khiết tịnh. Dĩ nhiên, việc “phải lòng người khác phái” là tình huống khó khăn đối với tu sĩ hoặc linh mục. Chúng ta biết rằng các Kitô hữu vẫn phải đối mặt với những nỗi đau khổ và sự khó khăn trong cuộc sống. Không dễ để trở thành người vợ hoặc người chồng chung thủy, hoặc một người độc thân. Việc xử lý thách đố này giúp người ta mạnh mẽ hơn trong ơn gọi của mình. 14. Bạn có phải là người trinh tiết để làm linh mục hoặc tu sĩ? Đây là câu hỏi phổ biến trong giới trẻ. Hoạt động tình dục trong quá khứ không ngăn cản người ta trở thành tu sĩ hoặc linh mục. Quá khứ của một người không là trở ngại chính. Nếu vậy, nam và nữ đã từng kết hôn không thể trở thành linh mục hoặc tu sĩ. Vấn đề là người đó có sẵn sàng và có thể sống mà yêu thích đời sống độc thân khi phục vụ tha nhân hay không. Một số vị thánh lớn đã từng có chọn lựa khác trước khi rẽ vào đời sống tu trì – chẳng hạn như Thánh Augustinô và Thánh Phanxicô Assisi. 15. Tôi có thể làm linh mục hoặc tu sĩ nếu tôi có nợ riêng? Thường thì các giáo phận và các dòng đòi hỏi ứng viên giải quyết mọi nợ nần riêng tư trước khi đi tu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp ngoại lệ đối với món nợ sinh viên và sẽ có chính sách đặc biệt. Nếu người đó có “lịch sử” xài hoang nên mắc nợ, nhất là liên quan thẻ tín dụng, thường thì người đó phải nghiêm túc cân nhắc mình có khả năng sống giản dị với ơn gọi tu trì hay không. 16. Tại sao một số người mặc tu phục trắng, đen, nâu, xanh,…? Tu phục có thể giúp dễ nhận biết đó là biểu tượng đức tin vào Thiên Chúa và liên quan Kitô giáo. Tu phục nói lên sự đơn giản qua cách sống lời khấn khó nghèo. Một số cộng đoàn có tu phục chính, tu phục làm việc, tu phục đi ra ngoài, nhưng điều chính vẫn là thể hiện đức tin. Thân! 16/04/2013 Minh Thống Hướng đến ngày cầu cho ơn gọi, được hiểu là ngày cầu cho ơn gọi Linh mục - Tu sĩ. Méo gởi đến cả nhà một vài chia sẻ và cũng là thắc mắc... Xem thêm »
Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam 30.1.16 Ơn gọi , Thiêng liêng Lịch sử Dòng Chúa Cứu Thế do thánh Alphonsô Maria De Liguori thành lập ngày 09 tháng 11 năm 1732, tại đồi Scala, nước Italia ngày nay. Ngày 30.11.1925, đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, ba thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, thuộc Tỉnh Dòng thánh Anna ở Quebec, Canada đã đến Việt Nam. Suốt 85 năm hiện diện với cộng đồng các sắc tộc Việt Nam, Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu theo Đức Kitô Cứu Thế loan báo tin mừng cho người bị bỏ rơi hơn cả. Năm 1923, Ðức Giám Mục thừa sai Henri Lecroart S.J. được phái sang bán đảo Ðông Dương với tư cách Khâm Sai Kinh Lý của Toà Thánh. Nhận thấy Giáo Hội Việt Nam là một Giáo Hội truyền giáo đầy triển vọng, với những cộng đoàn tín hữu sốt sắng, ơn gọi tu sĩ và linh mục dồi dào, nhưng đồng thời cũng lại là những cộng đoàn còn thiếu chiều sâu đức tin, thiếu chiều sâu đời sống nội tâm và thiếu sự sinh động tông đồ. Ðức Khâm Sai đã đề nghị Toà Thánh lưu tâm thiết lập các cơ cấu và đơn vị đảm trách việc tổ chức các kỳ đại phúc cho giới bình dân và các cuộc tĩnh tâm, cấm phòng cho hàng giáo sĩ và các tu sĩ. Ngày 20-06-1924, trong phiên họp cứu xét báo cáo đúc kết kỳ kinh lược của Ðức Cha Henri Lecroart S.J, các thành viên Thánh Bộ Truyền Giáo đã đề nghị Ðức Hồng Y Van Rossum C.Ss.R., Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo, vận động Dòng Chúa Cứu Thế thiết lập Nhà Dòng tại Ðông Dương. Ngày 09-11-1924, Ðức Hồng Y Van Rossum liên lạc với cha Patrick Murray, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế, và đề nghị trao việc lập Dòng tại Ðông Dương cho Tỉnh Dòng Sainte-Anne-de-Beaupré, Canada. Cha Bề Trên Tổng Quyền và Hội Ðồng Cố Vấn Trung Ương đã chấp thuận đề nghị của Ðức Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo. Sau đó, cha Bề Trên Tổng Quyền yết kiến Ðức Thánh Cha Pi-ô XI để xin ngài chuẩn y. Ngày 19-11-1924, mười ngày sau khi Ðức Hồng Y Van Rossum đề nghị với cha Patrick Murray, cha Thomas Pintal, Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Sainte-Anne-de-Beaupré, đã trả lời với cha Bề Trên Tổng Quyền và Hội Ðồng Cố Vấn Trung Ương rằng Tỉnh Dòng Sainte-Anne hân hoan chấp nhận đảm trách nhiệm vụ thiết lập Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam. Ngày 14-10-1925, ba vị thừa sai tiên khởi rời quê hương Canada, lên đường sang Ðông Dương thực hiện nhiệm vụ cao cả. Ðó là : Linh mục Hubert Cousineau (1890-1964) Linh mục Eugène Larouche (1892-1978) Tu sĩ Thomas St-Pierre (1883-1961). Ngày 30-11-1925, ba vị đến Huế, được Ðức Giám Mục Allys tiếp đón nồng hậu. Từ đó, Dòng Chúa Cứu Thế bắt đầu hiện diện tại Việt Nam. Cho đến nay Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam có 281 thành viên, trong đó 173 linh mục, 2 phó tế vĩnh viễn, 9 phó tế chuyển tiếp, 30 trợ sĩ, và 63 tu sĩ đang được đào tạo triết học và thần học. Các cộng đoàn có mặt và hoạt động từ đồng bằng đến miền núi, từ Bắc chí Nam, với các ưu tiên mục vụ cụ thể bao gồm các việc Loan báo Tin Mừng, Đại phúc, Chăm lo cho các nạn nhân của xã hội hiện đại, Nỗ lực cho công lý và hoà bình, và Truyền thông xã hội. Linh Đạo Dòng Chúa Cứu Thế đã được Thánh Anphong Maria de Liguori, Giám mục tiến sĩ Hội Thánh, thành lập vào năm 1732 tại miền nam Nước Ý. Mục đích chính của Dòng là “noi gương Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế rao giảng Lời Chúa cho người nghèo khó″ (Hiến Pháp 1). Sĩ tử DCCT đã và đang cố gắng thực hiện sứ mạng của mình dưới nhiều hình thức và trong mọi hòan cảnh. Điều làm cho các sĩ tử trong mọi thế hệ không ngừng hăng say rao giảng Lời Chúa chính là nền Linh đạo mà thánh nhân đã sống. Linh đạo của Dòng được xoay quanh bốn điểm nổi bật chính yếu: 1. Máng cỏ (Crib) Đối với Cha Thánh Anphong, ơn cứu độ chứa chan được khởi đi bằng mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Sĩ tử được mời gọi để, như Đức Kitô, đi vào lòng người bằng nếp sống đơn sơ, gần gũi và nên một với người thấp cổ bé miệng. Vì thế, hình ảnh của máng cỏ năm xưa rất gần gũi với sĩ tử DCCT. 2. Thánh giá (Cross) Sĩ tử không chỉ noi gương Đức Kitô tại làng Bêlem, mà còn gắng theo Người lên tới đỉnh Can-vê. Mầu nhiệm Thập giá nói lên khía cạnh hy sinh, đau khổ, không thể thiếu được trong việc loan báo tin mừng ‘ơn cứu độ chứa chan’. Chúa Giêsu Cứu Thế và Mầu Nhiệm Thập Giá không còn là hai, mà chỉ là một. 3. Thánh Thể (Eucharist) Mầu nhiệm Thánh Thể nói lên Tình yêu tuyệt đối của Đức Giêsu và sự hy sinh của Người để cho muôn dân được nuôi sống. Sĩ tử DCCT cũng mong được bắt chước Thầy Cả trở nên phần nào lương thực cho mọi người, cách riêng những người nghèo khó tất bạt. 4. Đức Maria (Mary) Chiều kích Maria không thể thiếu trong đời sống ơn gọi tận hiến, lại càng không thể vắng bóng trong sứ mạng của Dòng Chúa Cứu Thế. Từ thuở đầu, Cha Thánh Anphong đã chọn Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội làm Bổn mạng cho toàn Dòng, và phó dâng sức sống và sứ mạng tương lai của Dòng trong ban tay từ mẫu của Mẹ. Biến cố Đức Giáo Hòang Piô IX trao linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho DCCT vào năm 1866 lại càng nói lên sự quan phòng diệu kỳ của Thiên Chúa và sự liên hệ chặt chẽ giữa DCCT và Đức Maria. Đào Tạo Ngay từ những năm đầu của lịch sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, cùng với việc thiết lập Ðệ Tử Viện, Tập Viện dành cho các anh em dấn thân phục vụ Chúa Ki-tô và phục vụ người nghèo theo đặc sủng tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế đã được tổ chức. Ngày 25-03-1929, Tập Viện được quyết định thành lập với cha Hubert Cousineau làm Tập Sư. Ngày 08-12-1929, tám anh em dấn thân theo đặc sủng tu sĩ thừa sai đã mặc áo vào Tập Viện. Trong số đó, 5 người sẽ tuyên khấn ngày 08-12-1930. Từ đây vẫn đều đều có những lớp tập sinh và khấn sinh. Trong vòng hơn 30 năm, chương trình đào tạo các tu sĩ thừa sai, về căn bản, như sau: đào tạo thực tiễn trong giai đoạn thỉnh sinh; đào tạo tại Tập Viện; sau Tập Viện, hàng tuần sẽ có các giờ thường huấn do cha tuyên úy phụ trách. Năm 1959, vấn đề chương trình đào tạo các tu sĩ thừa sai đã được đặt ra một cách nghiêm túc. Những anh em thỉnh sinh được đào tạo trong “Dự Tu Viện” đặt tại Nha Trang do cha An-tôn Nguyễn Văn Trung làm Giám Ðốc, với một chương trình đào tạo về trí thức và kỹ thuật khá hoàn chỉnh. Ðồng thời, Tỉnh Dòng cũng tổ chức các khoá học kéo dài chừng một tháng tại Ðà Lạt cho các thầy đã khấn, với chương trình gồm các giảng khoá về Kinh Thánh và giáo lý cần thiết và phù hợp. Riêng trong năm 1966, có hai khoá học như thế được tổ chức. Tuy nhiên, các kế hoạch đào tạo này đã không được thực hiện lâu dài. Dự Tu Viện đã ngưng hoạt động từ Lễ Phục Sinh năm 1964. Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, một chương trình đào tạo anh em tu sĩ thừa sai được đề nghị, nhằm mục tiêu canh tân việc đào tạo và đưa ra một hướng mới cho các hoạt động của các thành viên trong Tỉnh Dòng đang và sẽ dấn thân phục vụ trong đặc sủng tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế. Chương trình đã được bắt đầu thực hiện tại Ðà Lạt. Nhưng rồi thời cuộc đã không cho phép tiếp tục. Sau ngày Ðất Nước thống nhất, công cuộc đào tạo các tu sĩ thừa sai hầu như không thể thực thi. Thực tế, cho đến năm 1994, không có sự phân biệt trong sự hướng dẫn các anh em trẻ dấn thân theo ơn gọi tu hành trong Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Tại Tập Viện niên khoá 1994-1995 mới có sự xác định đặc sủng riêng của một số anh em tập sinh theo hướng dấn thân phục vụ với tư cách tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế. Từ năm 1996, công tác đào tạo anh em tu sĩ thừa sai trẻ được thực hiện tại Tu Viện Mai Thôn. Từ năm 1996, Nhà Phú Dòng trở thành nơi đào tạo Dự Tập tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, phụ trách công tác đào tạo ban đầu cho các anh em dấn thân theo đặc sủng các Thầy. Ngày 20-08-1999, Tập Viện dành riêng cho anh em theo đặc sủng tu sĩ thừa sai đã được khai mạc tại Tu Viện Mai Thôn, với 4 tập sinh. Những anh em này cũng tu luyện dưới sự hướng dẫn của cha Tập Sư An-phong Phạm Gia Thụy, theo một số giảng khoá chung với các anh em tập sinh dấn thân theo đặc sủng linh mục thừa sai. Mãn Tập Viện, các thầy sẽ tiếp tục được đào tạo về đời tu Dòng Chúa Cứu Thế tại Nhà Học tu sĩ thừa sai, đặt tại Nhà Mai Thôn. Ngoài ra, các thầy còn có thể theo học một chương trình đào tạo đại cương về triết lý, thần học và giáo lý chung với các sư huynh La-san tại Học Viện La-san Mai Thôn. Ðồng thời các thầy cũng được tạo điều kiện để theo học các lớp chuyên môn, đặc biệt về kỹ thuật, nhằm mục tiêu phục vụ hữu hiệu trong đặc sủng mà Chúa Cứu Thế dành riêng cho các Thầy trong gia đình Dòng Chúa Cứu Thế, theo nhu cầu của Tỉnh Dòng hoặc theo đề nghị của các cộng đoàn. Theo Hiến Pháp, những anh em dấn thân phục vụ trong Dòng Chúa Cứu Thế theo đặc sủng tu sĩ thừa sai “phải được đào tạo theo một thể thức giúp họ có thể thấm nhuần mầu nhiệm Ðức Ki-tô một cách mật thiết và có thể tham gia đời sống của Nhà Dòng, vì tất cả mọi thành viên trong Dòng đều hướng về cùng một ơn gọi thừa sai, được thực hiện theo những nhiệm vụ riêng biệt. Những anh em dấn thân theo đặc sủng tu sĩ thừa sai cũng phải làm hết sức mình để đạt tới sự thành thạo về chuyên môn và về thừa tác vụ” (số 89). Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đang nỗ lực thực hiện chỉ đạo đó của Hiến Pháp. Cha Phao-lô Trần Văn Quang đang phụ trách công tác này. Sứ vụ: Rao giảng Tin Mừng Mục đích chính của Dòng Chúa Cứu Thế là rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô bằng các phương thức phổ biến như Ðại phúc, Cấm phòng, Tĩnh tâm. Sứ mạng rao giảng này được mở rộng bằng việc tông đồ báo chí, hầu có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều người sống ở phương xa. Tại Hoa Kỳ, Nguyệt san Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp hàng tháng cung cấp lương thực tinh thần cho hàng ngàn đồng hương trên khắp năm châu. Sứ Mạng Truyền Giáo Dòng Chúa Cứu Thế cũng đảm nhận việc truyền giáo cho lương dân tại Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La-Tinh. Hiện nay, tu sĩ của các Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hoa Kỳ đang phục vụ tại các trung tâm truyền giáo ở Puerto Rico, Brazil, Paraguay, Thái-Lan và Nigeria. Tại Việt Nam, các địa sở truyền giáo cho đồng bào Thượng đã được thiết lập từ lâu tại Fyan (Tuyên Ðức) và Pleikly (Pleiku). Hoạt Ðộng Tông Ðồ Chuyên Biệt Nhiều tu sĩ DCCT phụ trách các hoạt động tông đồ đặc biệt như quản nhiệm các giáo xứ theo yêu cầu của các Giám mục sở tại, tông đồ cho người câm điếc, tật nguyền, tuyên úy cho người di dân. Hiện nay một số linh mục DCCT Việt Nam hải ngoại đang làm tuyên úy cho các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam, cho trại tù và phục vụ các thanh niên không gia đình. Cổ Võ Lòng Sùng Kính Ðức Mẹ Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế có một lòng sùng kính đặc biệt đối với Mẹ Maria. Năm 1866 Ðức Thánh Cha Piô IX ký thác cho Dòng bức họa thời danh hay làm phép lạ, có tên “ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP”. Ngài truyền: “Hãy làm cho cả thế giới yêu mến Mẹ!”. Ngày nay, việc kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp thường được tổ chức hàng tuần tại các giáo xứ Mỹ cũng như tại các Ðền Ðức Mẹ trên toàn thế giới. Bên quê nhà, đền Ðức Mẹ tại Thái Hà Ấp (Hà Nội), Huế và Sài-Gòn là những trung tâm hành hương thân thuộc với đồng bào lương giáo Việt. Chứng Nhân Anh Hùng Có bốn tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đã được tôn phong Hiển thánh, hai vị được tôn phong Á thánh và nhiều Ðấng đáng kính, với ơn Chúa, đang chờ ngày Giáo Hội vinh thăng hiển thánh. Những nhân chứng anh hùng của các bậc cha anh luôn là niềm hứng khởi, thúc đẩy thế hệ đàn em mạnh tiến. Thánh AN-PHONG LIGUORI (1696-1787), Ðấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, là Tiến Sĩ Hội Thánh và là một trong những nhà thần học luân lý lừng danh nhất trong lịch sử Giáo Hội. Mối quan tâm đến phần rỗi các linh hồn cũng thúc đẩy ngài dấn thân vào việc tông đồ bằng ngòi bút. Tổng số tác phẩm của ngài lên đến 111 cuốn, bao gồm các lãnh vực luân lý, tín lý và tu đức. Thánh CLÊMENTÊ HOFBAUER (1751-1820) là một linh mục quản xứ nhiệt thành, một tông đồ tận tình với người nghèo và cả giới sinh viên trí thức. Ngài có công quãng bá DCCT qua khỏi biên cương nước Ý năm 1785. Thánh GIÊRAÐÔ MAJELLA (1726-1755) là một thầy đồng trợ thánh thiện. Giáo dân kính ngài như thánh bổn mạng các bà mẹ và hằng kêu cầu ngài những khi gặp gian nan. Ðặc biệt, Hội Bảo trợ Ơn gọi DCCT cũng đã nhận Ngài làm Thánh Quan Thầy của Hội. Thánh GIOAN NEUMANN (1811-1860) là một thừa sai di cư từ Âu Châu sang Hoa Kỳ. Ngài là Giám mục địa phận Philadephia, Pennsylvania, và là người đầu tiên thiết lập hệ thống trường công giáo tại giáo xứ ở Hoa Kỳ. Á Thánh GASPAR STANGASSINGER (1871-1899ønh trọn cuộc đời ngắn ngủi cho giới trẻ. Ngài được Ðức Gioan Phaolô II nâng lên hàng Á thánh ngày 24- 4-1988. Cha PHANXICÔ SEELO (1819-1867) là một nhà truyền giáo không mệt mỏi tại Hoa Kỳ. Ngài tận tụy phục vụ bệnh nhân dịch sốt vàng tại New Orleans, Louisiana và cuối cùng đã qua đời vì nhiễm bệnh dịch này. Nhìn Về Tương Lai Cha Thánh An Phong từng nói tiên tri về tương lai Dòng Thánh: “Hãy tin chắc, Dòng sẽ tồn tại cho đến ngày tận thế, vì đây không phải là công việc của tôi mà là công việc của Chúa”. Hơn 250 năm qua, lớp lớp các tu sĩ Dòng đã đáp lại lời mời của Chúa Cứu Thế, trở nên những sứ giả của Tin Mừng. Bằng việc tuyên khấn đức Vâng phục, Khó nghèo và Khiết tịnh, và được nâng đỡ trong đời sống gia thất huynh đệ, các anh em tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đồng lao cộng tác xây dựng Nước Chúa. Sống đời tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế không phải lúc nào cũng dễ. Nhưng cho những ai quảng đại chọn lối sống này, Chúa Giêsu đã hứa họ sẽ được gấp trăm ở đời này và hạnh phúc muôn đời với Ngài đời sau. Chân thành, trung thành và nhiệt thành, họ bước theo chân Chúa Cứu Thế, rao giảng Tin Mừng cứu rỗi cho muôn người. Lịch sử Dòng Chúa Cứu Thế do thánh Alphonsô Maria De Liguori thành lập ngày 09 tháng 11 năm 1732, tại đồi Scala, nước Italia ngày nay. N... Xem thêm »
Dòng Don Bosco Việt Nam 30.1.16 Ơn gọi , Thiêng liêng NGUỒN GỐC Dòng Salêdiêng Don Bosco, còn được gọi là Tu Hội Thánh Phanxicô Salê, do Thánh Gioan Bosco sáng lập ngày 09-12-1859 và được Tòa Thánh chính thức chấp thuận 19-02-1869, là Dòng thuộc quyền Giáo Hoàng. TIỂU SỬ THÁNH SÁNG LẬP Thánh Gioan Bosco sinh tại xóm Becchi, miền Piemont, nước Ý, ngày 16-8-1815, trong một gia đình nông dân nghèo. Cha của ngài là Ông Phanxicô Bosco qua đời khi ngài mới lên hai. Mẹ của ngài là Bà Magarita, đã nuôi dưỡng với một tình yêu dịu hiền nhưng cương nghị. Ngay từ thời niên thiếu, ngài đã muốn tận hiến đời mình cho thanh thiếu niên. Như ngài đã viết: “Vào lúc chín tuổi, trong một giấc mơ, tôi đã được cho biết về sứ mạng giáo dục của mình : “Đây là cánh đồng làm việc của con. Con hãy biến những con thú dữ này thành những con chiên hiền lành”. Và ngài đã gặp phải nhiều khó khăn để biến giấc mơ của mình thành hiện thực. Để có tiền đi học, ngài đã phải làm nhiều việc khác nhau: chăn bò, việc đồng áng, bồi bàn cà phê, may quần áo, may giầy,… Khi nghĩ về đời tu, ngài đã nghĩ đến việc đi tu Dòng Phanxicô. Nhưng Cha Linh Hướng của ngài là Thánh Giuse Cafasso, đã hướng dẫn ngài gia nhập Giáo phận. Sau khi được truyền chức linh mục ngày 05-06-1841, ngài muốn đi truyền giáo, Cha Linh hướng khuyên ngài ở lại Torinô và bắt đầu việc mục vụ tông đồ bằng cách đi thăm các Trại Giáo hóa dành cho các thanh thiếu niên phạm pháp. Ngày 08-12-1841, ngài đã đón nhận một thanh thiếu niên đầu tiên, đó là em Bartôlômêô Garelli. Chúa nhật sau đó, ngài đón nhận thêm nhiều em nữa. Lúc ban đầu, ngài quy tụ các em để vui chơi giải trí, nhất là để tham dự Thánh Lễ và hoc giáo lý. Sau khi có nơi ở cố định ở Valdocco, Thành Torinô, ngài đã xây nhà nội trú, mở các lớp dạy học và các xưởng dạy nghề. Để có thể giáo dục thanh thiếu niên, ngài đã phải cần đến nhiều người cộng tác. Năm 1859, để sứ mạng giáo dục của ngài được tiếp tục, ngài đã lập một Tu Hội với tên gọi là Tu Hội Thánh Phanxicô Salê, vì ngài muốn Thánh Phanxicô Salê là Bổn mạng, Tên gọi và Mẫu gương của Tu Hội ngài, nhất là Đức ái Tông đồ, Sự hiền lành và lòng kiên nhẫn. Chính vì thế, từ ngày 26-01-1854, các Cộng sự viên của ngài và sau đó các Tu sĩ của ngài được gọi là “Salêdiêng”. Ngày 25-03-1855, Thầy Micae Rua đã tuyên khấn. Năm 1860, Sư huynh đầu tiên được Thánh Gioan Bosco đón nhận vào Dòng (Sư huynh Giuse Rossi). Sau đó, ngày 14-06-1862, 22 Tu sĩ Salêdiêng khác tuyên khấn. Ngoài ra ngài cũng đã thành lập Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ (còn được gọi là Dòng Nữ Salêdiêng (05-08-1872). Năm 1876, ngài thành lập Hiệp Hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Ba Nhóm này và nhiều Nhóm được thành lập sau này liên kết với nhau thành Gia đình Salêdiêng. Để phát triển Dòng, năm 1847, ngài mở thêm một nhà ở Tôrinô. Năm 1863, ngài mở một nhà ở ngoài Tôrinô. Năm 1870, ngài mở một nhà nữa ở ngoài Vùng Piemont. Năm 1875, ngài mở một nhà ở ngoài nước Ý (Nice, Pháp) và gởi một phái đoàn truyền giáo đi Nam Mỹ (Patagonia và Argentina). Năm 1881, ngài thành lập một nhà ở Barcelona, Tây Ban Nha. Năm 1883, ở Braxin. Năm 1887 ở Chilê. Sau nhiều năm tháng dâng hiến đời mình cho sứ mạng giáo dục thanh thiếu niên, Thánh Gioan Bosco qua đời ngày 31-01-1888. Lúc bấy giờ có 773 Tu sĩ Salêdiêng và 393 Nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ. Ngài được Đức Thánh Cha Piô XI phong thánh ngày 01-04-1934. Nhân dịp Kỷ niệm 100 Năm ngài qua đời, ngày 24-01-1989, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã tuyên bố ngài là “Cha và Thầy của Giới trẻ”. LỊCH SỬ HỘI DÒNG A. TRÊN THẾ GIỚI Hiện nay Dòng Salêdiêng Don Bosco có 16.234 Tu sĩ, trong đó có 116 Hồng Y, Tổng Giám mục và Giám mục, 10.720 Linh mục, 2.092 Sư huynh và 484 Tập sinh. Đang hoạt động trên 129 quốc gia. B. LỊCH SỬ TỈNH DÒNG SALÊDIÊNG DON BOSCO VIỆT NAM 1. NHỮNG LỜI MỜI GỌI Thánh Gioan Bosco đã tận hiến đời mình cho Sứ mạng Giáo dục Giới trẻ. Mẫu gương và lý tưởng sống của Ngài đã không ngừng lôi cuốn nhiều người hâm mộ ngài, muốn bắt chước và đi theo Ngài. Thực vậy, cho dù con cái của Don Bosco chưa đến Việt Nam, nhưng mẫu gương và lý tưởng sống của Ngài đã đến Việt Nam qua cuốn sách Tiểu sử của Ngài. Ngay từ năm 1926, Đức Cha Constantino Aiuti, Đại diện Tông Toà Đông Dương đã gửi thư xin Cha Giám tỉnh Tỉnh Dòng Salêdiêng ở Trung Hoa gửi các Tu sĩ Salêdiêng đến Hải Phòng để điều hành một trường Công giáo. Sau đó, năm 1936, Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Giám mục Giáo phận Phát Diệm, đã xin Cha Carlo Braga, Giám tỉnh Tỉnh Dòng Salêdiêng Trung Hoa, gửi các Tu sĩ Salêdiêng đến điều hành Tiểu Chủng viện, dạy học và điều hành trường dạy nghề. Cha Carlo Braga hứa sẽ đáp ứng trong tương lai gần, nhưng đã không thực hiện lời hứa. Tiếp đến, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn đã đến tận Tôrinô, Trung Ương của Dòng Salêdiêng Don Bosco xin Cha Bề trên Cả Philip Rinaldi gửi các Tu sĩ Salêdiêng đến giúp giới trẻ Việt Nam. 2. NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN Mãi tới năm 1940, vì nhu cầu làm Tuyên uý cho các binh sĩ Nhật, một Linh mục Salêdiêng người Pháp, Cha Phanxicô Dupont, vì biết tiếng Nhật, ngài được gửi đến Việt Nam để làm thông dịch viên. Nhưng khoảng một năm sau, nhờ sự can thiệp can thiệp của Đại diện Tông Toà ở Hà Nội, ngài được xuất ngũ. Là một linh mục có lòng nhiệt thành, ngài lập tức lao vào các việc tông đồ từ Bắc chí Nam, từ Hà Nội đến Sài Gòn, qua việc giảng các Tuần Đại phúc, giải tội, hội thảo, làm tuyên uý Sinh viên Công giáo, tổng linh hướng các cấp lãnh đạo của Tổ chức Hướng Đạo. Là người con của Cha Thánh Gioan Bosco, ngài có lòng yêu mến giới trẻ nghèo khổ và bị bỏ rơi. Chính vì thế cuối năm 1941, ngài đã cộng tác vào việc điều hành một Cô nhi viện ở Hà Nội. Lúc bấy giờ, Cô nhi viện có khoảng 100 em. Phần đa các em học tiểu học, một ít học trung học, cũng có một số nhỏ các em lớn đã biết làm việc bên ngoài. Cho dù đa số các em chưa có đạo, Cha Dupont vẫn tạo điều kiện cho các em đọc kinh và có huấn từ tối, cử hành thánh lễ một tuần hai lần. Khi có được một Salêdiêng trẻ, Cha Raimond Petit đến hỗ trợ, Cha Dupont ký hợp đồng với Cô nhi viện ngày 18.12.1941. Sau đó Cha nghĩ ngay tới việc lập trường huấn nghệ cho học sinh và dạy Latin để vun trồng ơn gọi cho một số em. Vào năm 1945, tình hình Việt Nam mất an ninh. Chính năm ấy, khoảng 23 giờ đêm, ngày 9 tháng 8 tại Kẻ Sở gần Nam Định, Cha Dupont bị một nhóm vũ trang vào trấn áp và bắt đem đi, rồi bắn chết. Cha Raimond Petit không có mặt đêm ấy. Cha Petit tiếp tục đảm trách mọi công việc. Tuy nhiên, vì tình hình không cho phép, năm 1947, được phép Bề trên, Cha đưa khoảng 30 em về Pháp để chuyển vào các nhà Salêdiêng ở Nice và Marseille hoặc dần dần hội nhập các em vào những gia đình ở Marseille. Công cuộc Salêdiêng đầu tiên tại Việt nam sau 6 năm khởi động đã kết thúc. 3. NHỮNG BƯỚC KHỞI ĐẦU CHÍNH THỨC (1) GIA ĐÌNH TÊRÊXA VÀ THỊ XÁ KITÔ VƯƠNG Đức Cha Paul Seitz Kim và Gia đình Têrêxa Đức Cha Paul Seitz Kim sinh năm 1904, thuộc Hội Thừa Sai Paris sang Hà Nội năm 1932. Năm 1940, ngài mua đất ở Ba Vì, Sơn Tây để lập nhà Tĩnh tâm và cắm trại cho giới trẻ. Sau đó, ngài thành lập Gia đình Têrêxa để tiếp nhận các thanh thiếu niên nghèo, vô gia cư và thất lạc gia đình. Năm 1946, vì chiến tranh, ngài di chuyển Gia đình Têrêxa từ Sơn Tây về Khu Trúc Lâm ở Hà Nội, một Dinh thự của Phó Vương Hoàng Cao Khải. Năm 1950, ngài mua thêm nhiều đất và thành lập Thi Xá Kitô Vương cho các trẻ mồ côi, theo mô hình “Gia đình nhỏ”, tự quản theo đường lối chung. Ngày 16.06.1952, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Kontum. Vì vâng lời, ngài đã chấp nhận, nhưng với điều kiện là phải có Dòng Salêdiêng đến iếp nối công cuộc của ngài. Chính vì thế ngày 13.7.1952, Đại diện Tông tòa tại Hà Nội đã gặp Cha Bề Trên cả Renato Ziggiotti để xin ủy thác Gia đình Têrêxa cho Dòng Salêdiêng. Ngày 18.8.1952, Dòng chấp nhận điều hành Gia đình Têrêxa và Cha Carlo Braga, Giám tỉnh Tỉnh Dòng Trung Hoa Hong Kong, đã gửi Cha Antôn Giacomino (người Braxin) và Cha Anrê Majcen (người Slovenia) qua Việt Nam và các ngài đã đến Hà Nội ngày 03-10-1952. Kể từ ngày đó Dòng Salêdiêng Don Bosco chính thức có mặt tại Việt Nam. Ngay từ sau khi đảm nhận, Dòng đã áp dụng Phương pháp Giáo dục của minh vào việc điều hành Gia đình Têrêxa. Việc áp dụng này gặp nhiều trở ngại, vì các học sinh lớn đang quen với đường lối giáo dục do Đức Cha Kim để lại. Vi dụ : Trước đây Gia đình Têrêxa được tổ chức như các gia đình nhỏ, trong đó các học sinh lớn và các học sinh nhỏ sống với nhau trong một mái nhà như trong một gia đình. Giờ đây, các em được chia theo đoàn, lớn với lớn, nhỏ với nhỏ. Năm 1954: Khi Việt Nam bị phân chia, Dòng Don Bosco phải di chuyển vào Miền Nam. Vì không được Đức Cha Cassaigne chấp nhận cho vào Sài Gòn, Dòng đã chuyển các học sinh vào Ban Mê Thuột. Sau một thời gian ngắn, vì không thể sống được ở Ban Mê Thuột, Dòng phải chuyển vào Sài Gòn, lúc bấy giờ Đức Cha Simon Hoà Hiền làm Giám mục Giáo phận Sài Gòn. Trong cuộc di chuyển này, phần đa các học sinh lớn xin ở lại Giáo phận Kontum với Đức Cha Kim, chỉ có các học sinh nhỏ chấp nhận cùng di chuyển xuống Sài Gòn. Lúc ban đầu, (năm 1955) chuyển đến Thủ Đức, rồi sau đó khi Don Bosco Thủ Đức trở thành Đệ tử viện dành cho các học sinh muốn đi tu Dòng Don Bosco, còn các học sinh khác chuyển tới Gò Vấp, sau này thành Trường Kỹ thuật Don Bosco Gò vấp. Để có thể hoạt động, lúc ban đầu Dòng Don Bosco Việt Nam có nhiều Tu sĩ và Linh mục ngoại quốc, như Nam Tư (Slovenia), Braxin, Ý, Pháp, Trung Hoa, Bỉ, Hà Lan. Ngoài việc điều hành Gia đình Têrêxa, các ngài đã sớm quan tâm tới việc đào tạo ơn gọi, nhờ đó ngay từ năm 1957 đã có hai Tu sĩ Việt Nam đầu tiên, rồi từ năm 1960 đã bắt đầu mở Nhà Tập. Năm 1961, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam mở thêm một nhà nữa ở Trạm Hành (Đơn Dương). Năm 1972, mở Học viện ở Đà Lạt. Và năm 1973, bắt đầu xây một Trường Kỹ thuật nữa ở Đà Nẵng với dự kiến niên học 1975-1976 sẽ khai giảng. Nhưng sau biến cố năm 1975, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam mất nhà Đà Nẵng, Trạm Hành, Gò vấp, Thủ Đức. Nhờ lòng ưu ái và quan tâm của các Giám mục Giáo phận (Sài Gòn, Xuân Lộc, Đà lạt), Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam có được một số Giáo xứ để có thể tồn tại, hoạt động và phát triển. Tuy nhiên, vì bối cảnh xã hội và chính trị, từ năm 1975-1985, các Tu sĩ ngoại quốc đã phải về nước và một số Tu sĩ Việt Nam ra khỏi Dòng, năm 1975 có 120 tu sĩ, năm 1985 chỉ còn lại 78. Nhưng rồi, nhờ sự kiên trung, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam không ngừng phát triển về số tu sĩ cũng như về các công cuộc. Hiện nay, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam có 304 tu sĩ, đang làm việc tại nhiều Giáo phận (Hà Nội, Bùi Chu, Thanh Hoá, Vinh, Kontum, Ban Mê Thuột, Đà Lạt, Xuân Lộc, Bà Rịa, Sài Gòn, Vĩnh Long, Long Xuyên). ĐẶC SỦNG HỘI DÒNG 1. CHƯƠNG TRÌNH VÀ CHÂM NGÔN SỐNG Thánh Sáng lập đã chọn một câu châm ngôn làm chương trình sống và truyền cho Dòng ngài sáng lập. Đó là: “Da mihi animas, cetera tolle – Xin cho con các linh hồn, còn những sự khác xin cứ lấy đi”. 2. CHÂN TÍNH NGƯỜI SALÊDIÊNG Hiến luật Dòng Salêdiêng Don Bosco khẳng định : “Chúng ta, những người Salêdiêng Don Bosco (SDB) tạo thành một cộng thể những người được thánh tẩy, mau mắn vâng nghe tiếng Chúa Thánh Thần, nguyện thực hiện kế hoạch tông đồ của Đấng Sáng lập trong một hình thức chuyên biệt của đời tu: trong Hội thánh, các tu sĩ Salêdiêng là những dấu chỉ và người mang tình yêu Thiên Chúa đến cho thanh thiếu niên, đặc biệt những em nghèo khổ nhất (HL 2). Về hình thức, Dòng Salêdiêng Don Bosco là Dòng Giáo sĩ, thuộc quyền Giáo hoàng, gồm có giáo sĩ và giáo dân sống cùng một ơn gọi trong sự bổ sung huynh đệ, (HL 4). 3. LINH ĐẠO HỘI DÒNG Theo Hiến luật đầu tiên, mục tiêu của Dòng Salêdiêng là giúp các Hội viên nên thánh qua việc thực hành đức bác ái đối với nhau, nhất là đối với thanh thiếu niên nghèo và bị bỏ rơi. Trong Hiến luật được canh tân theo Công Đồng Vatican 2, mục tiêu đó được tái khẳng định : “Trong khi chu toàn sứ mệnh này, các tu sĩ Salêdiêng tìm được con đường nên thánh cho mình” (HL 2) 4. SỨ MẠNG CỦA HỘI DÒNG Dòng Salêdiêng có sứ mạng rao giảng Tin mừng cho thanh thiếu niên, cách riêng những em nghèo khổ; đặc biệt chăm sóc các ơn gọi tông đồ; giáo dục đức tin trong các môi trường bình dân, đặc biệt với việc truyền thông xã hội; loan báo cho các dân tộc Tin mừng mà họ chưa được nhận biết. (HL 6) Để thực hiện sứ mạng này, Dòng Salêdiêng tổ chức các công cuộc và hoạt động sau đây : nguyện xá và trung tâm trẻ, trường học thuộc mọi cấp và trung tâm huấn nghệ. Các trường nội trú và các nhà mở cho các trẻ em gặp khó khăn, các trường đại học, các trung tâm giáo lý và mục vụ. Công cuộc Salêdiêng chủ yếu nhắm đến các thanh thiếu niên. BỔN MẠNG HỘI DÒNG Bổn mạng chính của Dòng là Mẹ Maria Phù Hộ và Vô Nhiễm, Thánh Cả Giuse, Thánh Phanxicô Salê và Cha Thánh Gioan Bosco. ĐỊA CHỈ A. Trụ sở trung ương DIREZIONE GENERALE OPERE DON BOSCO Via della Pisana, 1111 00163 Roma – Bravetta – ITALIA ĐT: (+39) 06.656.121 Fax: (+39) 06.656.12.556 B. Trụ sở tỉnh dòng Việt Nam 54 Đường Số 5, Khu Phố 4, Linh Xuân, Thủ Đức Tp. Hồ Chí Minh – Việt Nam ĐT: 08.37240.473 Fax: 08.37240 647 Email: sdbvn@vnn.vn BỀ TRÊN ĐƯƠNG NHIỆM A. Bề trên tổng quyền LM. PASCUAL CHÁVEZ VILLANUEVA, SDB Sinh ngày 20-12-1947, tại Real de Catorce, Mêhicô Khấn dòng năm 1964 Linh mục: ngày 08-12-1973 Bề trên Cả: 2002-2008.2008-2014 B. Bề trên tại Việt Nam LM. Giuse Trần Hòa Hưng, SDB LM. GIUSE TRẦN HÒA HƯNG, SDB Sinh ngày 20 - 11 - 1958 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Khấn lần đầu ngày 14 - 08 - 1977. Thụ phong Linh mục ngày 28 - 10 - 1995. Giám tỉnh: 2009 NGUỒN GỐC Dòng Salêdiêng Don Bosco, còn được gọi là Tu Hội Thánh Phanxicô Salê, do Thánh Gioan Bosco sáng lập ngày 09-12-1859 và được Tò... Xem thêm »
Radio #3 - Đông Ấm 30.1.16 Radio "Đông ấm" Cái tên nghe có vẻ ngược đời nhưng chứa đựng tâm tình mà số radio thứ ba này muốn mang đến cho cả nhà. Đông là mùa của băng giá, lạnh lẽo, nhưng với những thành viên của Gia đình Thiên Ân thì có lẽ đông lại là mùa của ấm áp, ấm vì dù xa nhà nhưng vẫn luôn có những yêu thương, sẻ chia từ một gia đình thứ hai, ấm vì qua ta vẫn luôn có bạn bè và ấm vì đâu đó vẫn có một người luôn dành cả trái tim cho ta. Mời cả nhà cùng nghe những xúc cảm sâu lắng về mùa đông cùng "Đông Ấm"! "Đông ấm" Cái tên nghe có vẻ ngược đời nhưng chứa đựng tâm tình mà số radio thứ ba này muốn mang đến cho cả nhà. Đông là mùa củ... Xem thêm »
Radio #2 - Khúc Giao Mùa 30.1.16 Radio Cả nhà thân mến! Sau số radio đầu tiên "Nắng Hạ", Ban biên tập đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực cũng như đóng góp giúp cải thiện chất lượng cho chương trình. Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm mà cả nhà đã dành cho Radio Thiên Ân, Ban biên tập sẽ cố gắng nỗ lực hơn nữa để mang đến những món ăn tinh thần chất lượng hơn nữa. Số radio thứ hai với chủ đề "Khúc Giao Mùa" ghi lại những cảm xúc của mùa thu, của thời khắc đất trời chuyển từ thu sang đông. Nào cùng đeo tai phone và vặn lớn volume để thưởng thức nhé! Cả nhà thân mến! Sau số radio đầu tiên "Nắng Hạ" , Ban biên tập đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực cũng như đóng góp giú... Xem thêm »
Radio #1 - Nắng Hạ 30.1.16 Radio Cả nhà thân mến! Sau bao nỗ lực vất vả, cuối cùng Ban biên tập cũng hoàn thành số radio đầu tiên để gửi đến cả nhà mang tên "Nắng Hạ". Số này góp nhặt những cảm xúc, những kỷ niệm về mùa hạ của các thành viên trong gia đình. Đó là những mùa hạ rong chơi khi còn thơ ấu, mùa hạ chia tay mái trường cùng hoa phượng đỏ, hay là mùa hạ hòa mình với các em nhỏ trên Kontum,... Hy vọng số radio này sẽ mang lại cho cả nhà những cảm xúc nhẹ nhàng và sâu lắng. Vì là lần đầu tiên thực hiện nên khó tránh khỏi những thiếu sót, mong cả nhà thông cảm. Bây giờ thì cùng nhất nút "Play" và cảm nhận nhé! Xin cảm ơn cả nhà! Cả nhà thân mến! Sau bao nỗ lực vất vả, cuối cùng Ban biên tập cũng hoàn thành số radio đầu tiên để gửi đến cả nhà mang tên "Nắng ... Xem thêm »